Đường dây nóng: 0866.59.4498 - Thứ ba 22/10/2019 20:44
Phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS và miền núi:

Kỳ vọng từ những quyết định quan trọng

06:00 | 13/09/2019
Nếu được phê duyệt và triển khai đúng như kế hoạch, “Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS và miền núi” được kỳ vọng sẽ là động lực để phát triển toàn diện vùng DTTS, thu hẹp dần khoảng cách với các vùng phát triển.

Ngày 13/8/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 59/NQ-CP, trong đó, Chính phủ thống nhất với các nội dung chủ yếu của “Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) vùng DTTS và miền núi” do Ủy ban Dân tộc trình. Theo đó, Chính phủ giao Ủy ban Dân tộc chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ và các bộ, cơ quan liên quan tiếp thu ý kiến Thành viên Chính phủ, hoàn thiện Đề án, dự thảo Nghị quyết của Quốc hội và hồ sơ kèm theo.

ky vong tu nhung quyet dinh quan trong
Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7/2019, Chính phủ đã thống nhất thông qua các nội dung
của “Đề án tổng thể phát triển KT-XH vùng DTTS và miền núi”

Cụ thể, xác định tên gọi là “Đề án tổng thể phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS và miền núi” với phạm vi thực hiện là các xã vùng đồng bào DTTS và miền núi; tích hợp các chính sách thành chương trình mục tiêu quốc gia phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS và miền núi để thực hiện từ năm 2021; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước khi Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Quốc hội theo quy định.

Thông tin thêm về Đề án, trong khuôn khổ phiên họp thứ 36, tại phiên chất vấn và trả lời chất vấn, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Đỗ Văn Chiến cho biết, thực hiện Nghị quyết 74/2018/QH14 của Quốc hội, Chính phủ đã giao Ủy ban Dân tộc chủ trì, phối hợp với các bộ ngành, địa phương xây dựng “Đề án Tổng thể đầu tư phát triển KT-XH vùng DTTS và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030”. UBDT đã hoàn thành xây dựng dự thảo và đã tổ chức nhiều hội thảo, xin ý kiến của 43 tỉnh vùng DTTS và miền núi và 26 bộ, ngành, địa phương.

“Đến nay, nội dung Đề án đã được Chính phủ thông qua. Ủy ban Dân tộc đang tích cực thực hiện các bước tiếp theo để hoàn thiện Đề án. Nếu Đề án được phê duyệt và thực hiện đúng theo kế hoạch, sẽ là cơ sở để giải quyết căn bản những khó khăn, tồn tại, hạn chế hiện nay trong thực hiện chính sách dân tộc; mở ra cho vùng đồng bào DTTS và miền núi cơ hội phát triển mới” - Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT Đỗ Văn Chiến nhấn mạnh.

Đánh giá thêm về Đề án, Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ khẳng định, Chính phủ kỳ vọng trong kỳ họp tới, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Quốc hội sẽ thông qua và đồng ý cho triển khai Đề án thành một Chương trình mục tiêu quốc gia thứ ba, cùng với Chương trình giảm nghèo bền vững và Chương trình xây dựng Nông thôn mới. Chương trình mục tiêu quốc gia thứ ba này sẽ tích hợp 118 chính sách dân tộc hiện hành để tập trung nguồn lực phát triển toàn diện vùng DTTS và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn.

Mục tiêu cụ thể đến năm 2025 của “Đề án tổng thể phát triển KT-XH vùng DTTS và miền núi”

(1) Tốc độ tăng trưởng kinh tế của các tỉnh trong vùng DTTS, miền núi từ 8 - 10%/năm (cao hơn mức bình quân của cả nước).

Đến năm 2025 thu nhập bình quân người DTTS tăng gấp 2,5 lần so với hiện nay, tỷ lệ giảm nghèo hàng năm giảm 4 - 5%; giảm 30% số xã đặc biệt khó khăn; 50% số thôn đặc biệt khó khăn so với hiện nay.

(2) Tỷ lệ lao động qua đào tạo trên 70%, lao động đến tuổi có việc làm thu nhập ổn định trên 90%.

(3) Trên 90% số xã có đường ô tô được nhựa hóa, bê tông hóa đến trung tâm xã; trên 80% đường ở thôn, bản được bê tông hóa, cứng hóa theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông vận tải.

(4) 100% xã có trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở; trung tâm cụm xã có trường trung học phổ thông đáp ứng nhu cầu học tập và phổ biến kiến thức cho người dân; 80% xã có cơ sở vật chất trường học đạt chuẩn nông thôn mới.

(5) Trên 70% xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế; trên 90% trạm y tế xã có bác sỹ, đủ điều kiện khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế. Trên 90% phụ nữ được khám thai định kỳ, sinh con tại cơ sở y tế. Đảm bảo tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 10%.

(6) Trên 90% cán bộ, công chức xã có trình độ trung cấp chuyên nghiệp trở lên, trong đó trên 60% có trình độ đại học và trung cấp lý luận chính trị trở lên; trên 90% được bồi dưỡng kiến thức dân tộc theo Khung đối tượng 4.

(7) Trên 95% hộ gia đình có phương tiện nghe, nhìn.

(8) Trên 75% hộ gia đình được sử dụng nước hợp vệ sinh.

(9) Trên 99% hộ gia đình được sử dụng điện lưới.

P.V