Đường dây nóng: 0866.59.4498 - Thứ hai 19/11/2018 16:13

Phát triển công nghiệp hỗ trợ phù hợp với phát triển vùng, liên kết vùng sản xuất

06:13 | 21/06/2018
Đây là một điểm nhấn khác trong việc lựa chọn kinh nghiệm của Hàn Quốc đối với phát triển công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam. Chính phủ đặt mục tiêu đầu tư công vào các địa điểm cụ thể được lựa chọn để xây dựng các khu công nghiệp và các trung tâm khoa học và công nghệ. Điều này dẫn đến hệ lụy là sự phát triển tập trung chủ yếu vào thủ đô Seoul và các thành phố duyên hải. Hàn Quốc là quốc gia có tỷ lệ dân số sống ở các khu vực đô thị lớn cao nhất trong số các quốc gia. Điều này đã và đang đặt ra những thách thức lớn cho Hàn Quốc, đồng thời cũng là vấn đề Việt Nam cần rút kinh nghiệm trong quá trình phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ. 

Do công nghiệp hỗ trợ phục vụ đầu vào cho các ngành công nghiệp tạo ra sản phẩm nên để tiện cho việc vận chuyển, sản xuất, các hoạt động sản xuất công nghiệp hỗ trợ sẽ tự phát tại các khu vực sản xuất công nghiệp chính - hiện là các trung tâm đổ thị lớn. Điều này dẫn tới tình trạng quá tải ở các khu đô thị trong khi mất cân đối lớn giữa các vùng và không tận dụng được các nguồn lực ở các vùng khác.

Để khắc phục tình trạng này, gần đây, phát triển công nghiệp vùng trở thành ưu tiên trong chiến lược phát triển công nghiệp của Hàn Quốc nhằm giải quyết sự mất cân bằng giữa các vùng và tạo ra sự liên kết vùng hiệu quả trong phát triển chuỗi cung ứng hàng công nghiệp. Các chính sách, chương trình cụ thể được thiết kế cho một địa phương hoặc các địa phương có thể tạo ra năng lực cạnh tranh tổng thể, từ đó phát huy tối đa nguồn lực nội vùng và liên vùng. Điều này đòi hỏi năng lực lớn trong việc hoạch định và phân bổ nguồn lực tổng thể. 

Trong giai đoạn đầu (1998-2003), một số chương trình tiêu biểu được đưa ra bởi Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng Hàn Quốc như: Chương trình xúc tiến công nghiệp vùng (RIPP) để phát triển các cụm khu công nghiệp ngoài Thủ đô (ví dụ: công nghiệp dệt ở Daegu, công nghiệp giày dép ở Busan, ngành công nghiệp điện tử quang học và quang điện ở Gwangju và công nghiệp máy móc ở tỉnh Gyeongnam).

Trong giai đoạn hai (2003-2008), các chính sách tổng thể ở quy mô quốc gia được thực hiện, trong đó tiêu biểu nhất là xây dựng các công viên công nghệ để tạo ra công nghệ nguồn. 

Trong giai đoạn ba (2008-2012), chính phủ tăng nguồn lực để phát triển các vùng công nghiệp, thiết kế các chương trình mới để thúc đẩy liên kết vùng và hợp tác giữa các ngành, các vùng. Các chương trình này chủ yếu được quản lý bởi Bộ Kinh tế tri thức.

Có thể thấy, kinh nghiệm của Hàn Quốc được định hình bởi nhiều yếu tố độc đáo và không có một công thức chung cho sự phát triển của các ngành công nghiệp hỗ trợ. Mỗi quốc gia cần xác định các cơ hội và thách thức hiện tại của mình, thiết lập các ưu tiên và phát triển chiến lược riêng của mình, phù hợp với các nỗ lực thử nghiệm các động lực mới khi các thách thức mới xuất hiện.

Tuy nhiên, kinh nghiệm của Hàn Quốc có thể hữu ích cho Việt Nam trong quá trình phát triển các ngành công nghiệp và bắt kịp tốc độ phát triển của khu vực, thông qua việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa công nghiệp hóa với sự hình thành và phát triển của các ngành công nghiệp hỗ trợ và sự cân đối giữa các lĩnh vực, các vùng kinh tế. Điều này đòi hỏi mức độ cam kết cao của Chính phủ đối với:

- Phát triển công nghiệp hỗ trợ hợp lý với các chiến lược phát triển vùng (sản xuất);
- Thiết kế các cơ chế và động lực phù hợp cho việc phối hợp nguồn lực liên ngành, liên vùng;
- Phương pháp tiếp cận chính sách dần dần và tạo không gian cho các sáng kiến, đề xuất từ cơ sở (địa phương).