Hợp tác nhà trường – doanh nghiệp: Đi từ nhu cầu thực tế

Thay vì dừng ở trao đổi kinh nghiệm, nhà trường và doanh nghiệp cần phối hợp xác định nhu cầu nhân lực, đặt hàng nghiên cứu và chuyển giao công nghệ gắn với sản xuất.

Chiều 9/10, tại Hà Nội, Học viện Nông nghiệp Việt Nam tổ chức Hội nghị “Đối thoại chiến lược về Nhân lực – Khoa học công nghệ – Đổi mới sáng tạo”.

Kết nối từ nhu cầu thực tế

Phát biểu tại Hội nghị, GS.TS.NGƯT. Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, cho rằng giá trị của cơ sở đào tạo không chỉ nằm ở tri thức được tạo ra mà còn ở khả năng chuyển hóa tri thức thành nguồn nhân lực, công nghệ và sản phẩm phục vụ xã hội. Doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào quá trình đào tạo, từ dự báo nhu cầu nhân lực, xác định năng lực cần thiết cho từng vị trí việc làm đến xây dựng chương trình, tổ chức thực tập và đưa các vấn đề thực tế vào giảng dạy.

GS.TS.NGƯT. Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam phát biểu tại sự kiện.

GS.TS.NGƯT. Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam phát biểu tại sự kiện.

Trong nghiên cứu khoa học, doanh nghiệp có thể cung cấp những vấn đề phát sinh từ sản xuất và thị trường; nhà trường phối hợp nghiên cứu, thử nghiệm, hoàn thiện giải pháp và chuyển giao kết quả. Hiệu quả ứng dụng, giá trị tạo ra cho doanh nghiệp và người sản xuất cần trở thành thước đo quan trọng đối với nghiên cứu ứng dụng. Thực tế, trong 10 năm gần đây, hơn 200 sản phẩm khoa học và công nghệ của Học viện đã được đăng ký sở hữu trí tuệ, công nhận lưu hành hoặc công nhận là tiến bộ kỹ thuật. Tuy nhiên, để khai thác tốt hơn nguồn lực nghiên cứu, việc xác định đúng nhu cầu của doanh nghiệp và tổ chức hợp tác ngay từ đầu có ý nghĩa quan trọng.

Từ góc độ doanh nghiệp, ông Vũ Văn Tiền, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Geleximco, cho rằng hợp tác giữa Học viện và cộng đồng doanh nghiệp cần tập trung vào đào tạo nhân lực, phát triển khoa học công nghệ và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật. Doanh nghiệp có thể cung cấp các tình huống thực tế để sinh viên tiếp cận từ khi còn học tập, đồng thời tạo điều kiện để người học phát triển tư duy và khả năng giải quyết vấn đề.

Với lĩnh vực nông nghiệp, ông Tiền đề cập đến tiềm năng ứng dụng kết quả nghiên cứu trong chọn tạo giống cây trồng, vật nuôi, phát triển chế phẩm sinh học và phòng, chống dịch bệnh. Đây là những hướng nghiên cứu có thể gắn trực tiếp với yêu cầu nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế cho người nông dân.

Đặt hàng nghiên cứu, gắn đào tạo với thị trường

Từ thực tiễn sản xuất và chế biến rau quả, TS. Đinh Cao Khuê, Chủ tịch HĐQT DOVECO, đề xuất tăng cường hợp tác nghiên cứu giữa doanh nghiệp với Học viện Nông nghiệp Việt Nam, tập trung vào cơ giới hóa, tự động hóa, chọn tạo giống và giảm chi phí sản xuất.

Toàn cảnh Hội nghị.

Toàn cảnh Hội nghị.

Theo ông Khuê, cơ giới hóa và tự động hóa là yêu cầu cần thiết để nâng cao năng suất, tiết kiệm chi phí và cải thiện sức cạnh tranh của nông sản. Vì vậy, công tác đào tạo cần quan tâm hơn đến nhân lực có chuyên môn về cơ khí và tự động hóa nông nghiệp, đồng thời phát triển các giải pháp phù hợp với điều kiện sản xuất trong nước.

Đối với ngành rau quả, doanh nghiệp mong muốn nhà trường nghiên cứu, chọn tạo các giống cây trồng có năng suất, chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu chế biến và xuất khẩu. Riêng với cây dứa, việc lựa chọn giống cần gắn với nhu cầu thị trường, điều kiện khí hậu, khả năng chống chịu thời tiết và hiệu quả kinh tế tại vùng nguyên liệu.

Bên cạnh nghiên cứu giống, các vấn đề như điều tiết sinh trưởng, kiểm soát thời điểm ra hoa, nâng cao năng suất và hoàn thiện quy trình canh tác cũng cần được nghiên cứu, thử nghiệm trước khi áp dụng trên diện rộng.

Theo ông Khuê, doanh nghiệp có thể đặt hàng những vấn đề cụ thể từ sản xuất; nhà trường huy động đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học để nghiên cứu, đánh giá hiệu quả và hoàn thiện giải pháp. Khi chi phí sản xuất trên mỗi hecta được giảm xuống, lợi ích không chỉ thuộc về doanh nghiệp mà còn có thể cải thiện thu nhập của người trồng.

Trong lĩnh vực giống cây trồng, ông Trần Mạnh Báo, Chủ tịch HĐQT ThaiBinh Seed, cho rằng yêu cầu đặt ra là chủ động nguồn giống trong nước, đồng thời đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực nghiên cứu chọn tạo giống. Việc ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ số và các kỹ thuật phân tích hiện đại có thể góp phần rút ngắn thời gian nghiên cứu, nâng cao khả năng đáp ứng yêu cầu sản xuất.

Tuy nhiên, giống mới không chỉ cần năng suất cao mà còn phải chống đổ, chống chịu sâu bệnh và thích ứng với điều kiện canh tác. Vì vậy, nghiên cứu chọn tạo giống cần xuất phát từ những yêu cầu cụ thể của đồng ruộng và người sản xuất.

Từ góc độ đào tạo, ông Báo nhấn mạnh yêu cầu tăng cường thực hành, nghiên cứu ứng dụng và giải quyết các vấn đề thực tế. Sinh viên không chỉ cần nắm vững kiến thức chuyên môn mà còn phải biết xây dựng quy trình kỹ thuật, tổ chức thí nghiệm và đánh giá kết quả nghiên cứu.

Quan điểm này cũng được ông Vũ Anh Tuấn, Phó Tổng giám đốc kiêm phụ trách ngành sản xuất và kinh doanh chăn nuôi của C.P. Việt Nam, chia sẻ từ thực tiễn tuyển dụng. Theo ông Tuấn, sinh viên Học viện có nền tảng chuyên môn tốt, song kinh nghiệm thực tế còn hạn chế, khiến doanh nghiệp phải dành thêm thời gian hướng dẫn để người lao động thích nghi với công việc.

Ngoài kiến thức chuyên ngành, nhân lực nông nghiệp cần được trang bị kỹ năng phân tích và khai thác dữ liệu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT) và tự động hóa. Đây là những năng lực ngày càng cần thiết khi hoạt động sản xuất chuyển dịch theo hướng hiện đại, ứng dụng công nghệ.

Theo ông Tuấn, hợp tác đào tạo cần tạo điều kiện để sinh viên tiếp cận chuyên gia, trải nghiệm môi trường làm việc và hiểu rõ yêu cầu của từng vị trí trước khi tốt nghiệp. Với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và thực phẩm, nhu cầu nhân lực không chỉ tập trung ở bác sĩ thú y, kỹ sư chăn nuôi mà còn có các ngành công nghệ thực phẩm, cơ khí nông nghiệp và kinh tế nông nghiệp.

Ông Nguyễn Xuân Cường, Nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cố vấn cao cấp Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho hay, yêu cầu đặt ra là xây dựng cơ chế hợp tác thường xuyên giữa nhà trường và doanh nghiệp, thay vì chỉ dừng ở các hoạt động kết nối theo sự kiện. Doanh nghiệp cần tham gia xác định nhu cầu tuyển dụng, góp ý chương trình đào tạo, tiếp nhận sinh viên thực tập và đặt hàng nghiên cứu; nhà trường cần chủ động lựa chọn các bài toán có khả năng ứng dụng, tổ chức thử nghiệm và đánh giá hiệu quả chuyển giao. Khi nhu cầu thị trường được phản ánh vào đào tạo và nghiên cứu ngay từ đầu, doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận nguồn nhân lực phù hợp, còn kết quả khoa học có thêm điều kiện đi vào sản xuất. Đây cũng là hướng hợp tác cần thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam, từ khâu giống, canh tác đến chế biến và xuất khẩu.

Giá trị của trường đại học không chỉ nằm ở tri thức mà còn ở khả năng chuyển hóa thành nhân lực, công nghệ và sản phẩm phục vụ xã hội. Vì vậy, Học viện cần tăng cường hợp tác với doanh nghiệp, gắn đào tạo với thực tiễn, nghiên cứu với nhu cầu sản xuất và thị trường. Ở chiều ngược lại, trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học và sản xuất xanh phát triển mạnh, chất lượng nhân lực và năng lực làm chủ công nghệ quyết định sức cạnh tranh của nông nghiệp. Doanh nghiệp cần tham gia đặt hàng nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao công nghệ, lấy hiệu quả ứng dụng làm thước đo.

Nguyễn Hạnh

Có thể bạn quan tâm