Phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc phỏng vấn TS. Nguyễn Việt Hùng, Giám đốc khu vực châu Á của Viện Nghiên cứu Chăn nuôi quốc tế (ILRI) xung quanh vấn đề này.
Thực phẩm không an toàn gây tổn thất khoảng 1% GDP mỗi năm
- Thưa ông, nhiều nghiên cứu cho thấy thực phẩm không an toàn đang gây thiệt hại hàng trăm tỷ USD mỗi năm trên toàn cầu. Ông có thể cho biết quy mô và mức độ tác động của vấn đề này đối với sức khỏe cộng đồng và sự phát triển kinh tế - xã hội?
TS. Nguyễn Việt Hùng: Theo số liệu công bố mới nhất của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tháng 6/2026, thực phẩm không an toàn đang trở thành một thách thức toàn cầu ngày càng nghiêm trọng. Nếu năm 2010, thế giới ghi nhận khoảng 600 triệu ca bệnh liên quan đến thực phẩm không an toàn, thì đến năm 2021 con số này đã tăng lên khoảng 866 triệu ca mỗi năm, cướp đi sinh mạng của khoảng 1,5 triệu người trên toàn cầu, bao gồm cả các ca tử vong cấp tính do nhiễm trùng và các hệ lụy mạn tính do tích tụ hóa chất, độc tố.
TS. Nguyễn Việt Hùng, Giám đốc khu vực châu Á của ILRI. Ảnh: Phương Dung
Gánh nặng này gây ra những hệ lụy nghiêm trọng đối với sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là trẻ em dưới 5 tuổi, đồng thời làm thiệt hại kinh tế ước tính khoảng 647 tỷ USD mỗi năm do chi phí y tế, mất năng suất lao động, gián đoạn chuỗi thương mại nông sản và tác động đến sinh kế của người dân. Theo ước tính của Viện Nghiên cứu Chăn nuôi Quốc tế, gánh nặng bệnh truyền qua thực phẩm có thể tương đương khoảng 1% GDP mỗi năm, cho thấy đây không chỉ là vấn đề y tế mà còn là vấn đề phát triển kinh tế.
Trong một hệ thống thực phẩm toàn cầu hóa, chúng ta không thể quản lý an toàn thực phẩm theo cách tiếp cận đơn ngành - tức là chỉ tập trung điều trị ở phần ngọn khi người dân đã đổ bệnh. Thay vào đó, cần áp dụng triệt để tiếp cận 'Một Sức khỏe' (One Health), thiết lập sự giám sát tích hợp chia sẻ dữ liệu giữa ngành Y tế, Nông nghiệp và Môi trường để kiểm soát nguy cơ ngay từ trang trại, chuỗi chăn nuôi, môi trường nuôi trồng cho đến bàn ăn của người tiêu dùng. Và trong bối cảnh hệ thống thực phẩm ngày càng kết nối và toàn cầu hóa, đầu tư vào an toàn thực phẩm chính là đầu tư vào sức khỏe, phát triển hệ thống thực phẩm bền vững và khả năng chống chịu của nền kinh tế.
- Từ các nghiên cứu và hoạt động thực tiễn của ILRI tại Việt Nam, theo ông, những nguy cơ và điểm nghẽn lớn nhất về an toàn thực phẩm hiện nay đang nằm ở đâu trong chuỗi từ sản xuất, chế biến đến tiêu dùng?
TS. Nguyễn Việt Hùng: Dựa trên các nghiên cứu và hoạt động thực tiễn an toàn thực phẩm của ILRI, với hơn 70% nguồn thịt lợn đến tay người tiêu dùng Việt qua chuỗi sản xuất truyền thống, các nguy cơ an toàn thực phẩm thường xuất hiện tại các điểm giao thoa trong chuỗi thực phẩm, nơi nhiều tác nhân cùng tham gia nhưng trách nhiệm quản lý chưa được kết nối hiệu quả. Các cơ sở giết mổ, các chợ còn hạn chế về điều kiện cơ sở vật chất, cách thức vận hành và thực hành vệ sinh giết mổ, bày bán; thậm chí tại các bếp ăn gia đình, bếp ăn tập thể không đảm bảo nguyên tắc phòng tránh lây nhiễm chéo khi chế biến là những nơi tiềm tàng nguy cơ và là điểm nghẽn lớn nhất về an toàn thực phẩm hiện nay.
Ngoài các nguy cơ vi sinh vật như Salmonella, E. coli, Việt Nam cũng đang đối mặt với những thách thức mới liên quan đến truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử thực phẩm, biến đổi khí hậu và sự thay đổi hành vi tiêu dùng. Những thách thức này thấy rõ ở các sự cố về an toàn thực phẩm đang diễn ra phức tạp gần đây, dẫn đến các hậu quả của việc lưu hành của thực phẩm mang mầm bệnh, hóa chất độc hại, hay sự gia tăng ngộ độc thực phẩm do bão lũ.
Một điểm nghẽn quan trọng khác hiện nay là khoảng cách giữa bằng chứng khoa học và thực tiễn triển khai. Chúng ta đã có nhiều giải pháp hiệu quả (như mô hình cải thiện thớt, sàn và thực hành vệ sinh tại chợ do ILRI thí điểm), nhưng làm sao để thể chế hóa, nhân rộng và duy trì các giải pháp này trên quy mô toàn quốc một cách bền vững bằng các chính sách khuyến khích kinh tế vẫn là một bài toán lớn chưa có lời giải triệt để.
Cần quản lý theo nguy cơ và mở rộng các giải pháp đã được kiểm chứng
- Vì sao cách tiếp cận “Một Sức khỏe” được xem là chìa khóa để giải quyết những thách thức về an toàn thực phẩm hiện nay, thưa ông?
TS. Nguyễn Việt Hùng: Bên cạnh các bệnh truyền lây giữa động vật và con người và kháng kháng sinh, an toàn thực phẩm là lĩnh vực điển hình cho thấy không một ngành nào có thể tự giải quyết vấn đề một mình. Các mối nguy cũng như nguy cơ về an toàn thực phẩm có thể xuất hiện ở tất cả các khâu nếu các mối nguy và các nguy cơ không được kiểm soát hiệu quả.
Cơ quan chức năng kiểm tra khu vực bếp tại một khách sạn trên địa bàn Hà Nội. Ảnh: Thu Trang
Cách tiếp cận ‘Một Sức khỏe’ giúp kết nối các ngành y tế, thú y/nông nghiệp, môi trường, giáo dục; từ nhà nước/chính quyền các cấp cho tới tư nhân để cùng giải quyết nguyên nhân gốc rễ của vấn đề. Như chúng tôi thường nhấn mạnh, thách thức hiện nay không phải là thiếu giải pháp, mà là làm thế nào để đưa các giải pháp đó vào thực tiễn và mở rộng quy mô tác động. Do vậy, cách tiếp cận ‘Một Sức khỏe’ chính là chìa khóa để có thể mở cánh cửa của việc quản lý - nghiên cứu và áp dụng các giải pháp cải thiện an toàn thực phẩm trong các chuỗi thực phẩm khác nhau mang tính hiệu quả và bền vững hơn.
- Ông từng nhấn mạnh rằng, tiến bộ trong an toàn thực phẩm chỉ có thể đạt được khi nghiên cứu, chính sách và cộng đồng cùng đồng hành. Theo ông, Việt Nam cần ưu tiên những giải pháp nào để xây dựng chuỗi thực phẩm an toàn, minh bạch và bền vững hơn trong thời gian tới?
TS. Nguyễn Việt Hùng: Hỗ trợ các tác nhân (nông dân, chủ lò mổ, tiểu thương) áp dụng các biện pháp "can thiệp tác động nhẹ" nhưng hiệu quả cao như nâng cấp thớt/sàn inox, phân tách khu vực chín - sống, tập huấn thay đổi hành vi kèm theo các chứng nhận uy tín. Giáo dục truyền thông để người tiêu dùng hiểu đúng về an toàn thực phẩm, biết cách chọn lọc và sẵn sàng chi trả mức giá hợp lý cho thực phẩm an toàn, từ đó tạo áp lực kinh tế ngược lại, buộc người sản xuất phải thay đổi.
Mở rộng ứng dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc, giúp người tiêu dùng tiếp cận thông tin minh bạch hơn về sản phẩm. Đầu tư mạnh mẽ vào các nghiên cứu thực địa để xác định chính xác các điểm nóng về ô nhiễm vi sinh và hóa chất trên toàn chuỗi. Thay vì dàn trải nguồn lực để kiểm tra hành chính, các cơ quan quản lý cần dựa trên bằng chứng khoa học để phân bổ nguồn lực vào những khâu có nguy cơ cao nhất (như giết mổ và chợ truyền thống).
Xây dựng một hành lang pháp lý không chỉ nghiêm minh mà phải có tính khả thi cao. Các quy định cần được thiết kế dựa trên thực tế của các hộ sản xuất nhỏ lẻ, tránh việc đưa ra các tiêu chuẩn quá cao khiến người dân không thể theo kịp, dẫn đến việc đối phó hoặc đứng ngoài hệ thống. Thúc đẩy hợp tác đa ngành theo cách tiếp cận ‘Một Sức khỏe’, kết nối cơ quan quản lý, doanh nghiệp, nhà khoa học và cộng đồng. Xây dựng năng lực cho thế hệ trẻ, bởi đây là lực lượng sẽ dẫn dắt các hệ thống thực phẩm an toàn và bền vững trong tương lai.
Xin cảm ơn ông!
An toàn thực phẩm là trách nhiệm chung của tất cả các bên. Để cải thiện an toàn thực phẩm ở Việt Nam, chúng ta cần cùng hành động dựa trên tinh thần minh bạch, tử tế và làm thật; không gian lận trong sản xuất, kinh doanh vì lợi nhuận bằng mọi giá. Doanh nghiệp và người sản xuất cần bảo đảm an toàn trong toàn chuỗi, có truy xuất nguồn gốc rõ ràng. Cơ quan quản lý cần áp dụng cách tiếp cận quản lý dựa trên nguy cơ, hướng tới một hệ thống thống nhất và hiệu quả hơn. Khi mỗi bên đều là một “người quản lý nguy cơ” có trách nhiệm, niềm tin vào thực phẩm an toàn sẽ được xây dựng.