Xúc tiến thương mại ‘mở đường’ cho công nghệ điện tử Việt vào chuỗi cung ứng

Xúc tiến thương mại không chỉ mở rộng thị trường, mà còn kết nối doanh nghiệp công nghệ Việt với người mua, đối tác và chuỗi cung ứng để nâng giá trị sản phẩm.

Từ quảng bá sản phẩm đến tạo dựng niềm tin thị trường

Trong lĩnh vực công nghệ, niềm tin là một yếu tố quan trọng quyết định khả năng lựa chọn sản phẩm. Người tiêu dùng, doanh nghiệp và cơ quan sử dụng sản phẩm công nghệ, điện tử không chỉ quan tâm sản phẩm có tính năng gì, mà còn quan tâm đến chất lượng, hiệu quả, khả năng bảo đảm an ninh, an toàn và khả năng đồng hành lâu dài của nhà cung cấp. Đây là một trong những giá trị mà thương hiệu quốc gia có thể hỗ trợ doanh nghiệp gia tăng trong quá trình tiếp cận thị trường.

Mới đây, Công ty CP MISA đã vinh dự đạt Thương hiệu Quốc gia năm 2026. Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Lê Hồng Quang, Tổng giám đốc Công ty CP MISA cho biết, việc được chứng nhận thương hiệu quốc gia giúp doanh nghiệp gia tăng nhận diện sản phẩm, đồng thời tạo thêm niềm tin với khách hàng và đối tác. Các hoạt động trong khuôn khổ chương trình cũng tạo điều kiện quảng bá sản phẩm đạt thương hiệu quốc gia ra thị trường quốc tế.

Như vậy, xúc tiến thương mại đối với sản phẩm công nghệ, điện tử không thể chỉ dừng ở việc đưa sản phẩm đến một hội chợ hay tổ chức một chương trình giới thiệu. Giá trị lớn hơn nằm ở việc tạo dựng sự nhận biết, củng cố niềm tin và mở ra những kết nối thương mại mới.

MISA với hệ sinh thái nhiều sản phẩm công nghệ Việt được ứng dụng trong nhiều ngành nghề

MISA với hệ sinh thái nhiều sản phẩm công nghệ Việt được ứng dụng trong nhiều ngành nghề

Với MISA, hệ sinh thái các nền tảng như MISA AMIS, MISA FinGov, MISA QLCB cùng các giải pháp AI như MISA OneAI, MISA Agentwork... được phát triển theo hướng liên thông dữ liệu, hỗ trợ ra quyết định theo thời gian thực và phù hợp với định hướng lấy dữ liệu làm tài nguyên. Đây cũng là một ví dụ cho thấy sản phẩm công nghệ Việt muốn cạnh tranh trên thị trường cần chứng minh được giá trị sử dụng thực tế, thay vì chỉ truyền thông về công nghệ.

Theo ông Lê Hồng Quang, chất lượng sản phẩm là một trong những trụ cột quan trọng để xây dựng thương hiệu. Với sản phẩm công nghệ thông tin, chất lượng được thể hiện ở lợi ích cho người sử dụng, hiệu quả chuyển đổi số cũng như khả năng bảo đảm an ninh, an toàn. Khi xúc tiến thương mại được đặt trên nền tảng chất lượng thực chất, hoạt động quảng bá sẽ không chỉ tạo ra nhận diện mà còn giúp sản phẩm hình thành thị trường.

Đây là điểm đặc biệt quan trọng trong bối cảnh sản phẩm công nghệ Việt phải cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu. Hàng nhập khẩu có thể sở hữu lợi thế về thương hiệu, quy mô và kinh nghiệm thị trường. Doanh nghiệp Việt vì vậy cần biến lợi thế hiểu thị trường trong nước, khả năng thích ứng và phát triển giải pháp phù hợp thành năng lực cạnh tranh.

Cùng với đó, công nghệ đang tạo ra một không gian mới cho xúc tiến thương mại. Khi dữ liệu được kết nối, doanh nghiệp có thể hiểu rõ hơn nhu cầu khách hàng, xác định thị trường mục tiêu và phát triển sản phẩm sát với nhu cầu thực tế. AI và chuyển đổi số vì vậy không chỉ là câu chuyện của sản xuất hay quản trị doanh nghiệp. Đây còn là công cụ để nâng cao hiệu quả xúc tiến thương mại.

Ông Lê Hồng Quang cho rằng công nghệ và chuyển đổi số cần được coi là một yếu tố quan trọng trong nâng cao năng lực cạnh tranh. Khi doanh nghiệp ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, năng suất, hiệu quả và tốc độ phát triển có thể được nâng lên, qua đó trực tiếp hỗ trợ năng lực cạnh tranh.

Kết nối doanh nghiệp Việt vào chuỗi cung ứng

Nếu xúc tiến thương mại giúp sản phẩm tìm thấy thị trường thì với ngành điện tử, một nhiệm vụ quan trọng không kém là giúp doanh nghiệp tìm thấy vị trí trong chuỗi cung ứng. Chia sẻ về nội dung này, bà Trương Thị Chí Bình, Tổng Thư ký Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ cho biết, nếu trước đây doanh nghiệp chủ yếu sản xuất theo thiết kế và yêu cầu có sẵn của khách hàng thì hiện nay, khách hàng có thể chỉ cung cấp sản phẩm mẫu và yêu cầu doanh nghiệp tự thiết kế, hoàn thiện.

Sự thay đổi này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp Việt phải tiến sâu hơn vào chuỗi giá trị. Muốn vậy, doanh nghiệp cần không chỉ năng lực sản xuất mà còn cần thông tin, dữ liệu, khả năng thiết kế và kết nối với các nguồn cung linh kiện.

Theo bà Trương Thị Chí Bình, một điểm nghẽn hiện nay là doanh nghiệp thiếu dữ liệu, thiếu kết nối và thiếu thông tin về nguồn cung linh kiện. Đây chính là khoảng trống mà hoạt động xúc tiến thương mại có thể tham gia sâu hơn để hỗ trợ doanh nghiệp tốt hơn.

Nếu xúc tiến thương mại truyền thống tập trung kết nối người bán với người mua thì xúc tiến thương mại trong ngành công nghiệp điện tử cần mở rộng sang kết nối doanh nghiệp với doanh nghiệp, doanh nghiệp với nhà cung ứng linh kiện, doanh nghiệp với các nhà mua hàng và các chuỗi sản xuất. Một nền tảng dữ liệu cho phép doanh nghiệp tra cứu linh kiện, nguồn cung và thị trường, theo đề xuất của bà Bình, có thể hỗ trợ quá trình này. Khi thông tin được kết nối, doanh nghiệp sẽ có thêm cơ sở để tìm kiếm đối tác, xác định nguồn cung và nâng cao khả năng tham gia chuỗi. Đây cũng là tiền đề để tăng tỷ lệ nội địa hóa.

Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu dịch chuyển, việc các nhà sản xuất tìm kiếm và đa dạng hóa nguồn cung tạo ra cơ hội cho doanh nghiệp Việt. Nhưng cơ hội chỉ chuyển thành đơn hàng khi doanh nghiệp đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng, công nghệ, tiến độ và khả năng cung ứng. Do đó, xúc tiến thương mại cần đi cùng nâng cao năng lực sản xuất.

Một cuộc kết nối giao thương có thể đưa doanh nghiệp Việt đến với nhà mua hàng, nhưng để biến cuộc gặp thành hợp đồng, doanh nghiệp phải chứng minh được năng lực. Một sản phẩm được quảng bá rộng rãi nhưng không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật cũng khó đi xa trong chuỗi cung ứng.

Ở chiều ngược lại, khi doanh nghiệp nâng được năng lực sản xuất, thiết kế và làm chủ công nghệ, hoạt động xúc tiến thương mại sẽ có thêm “hàng hóa chất lượng” để đưa ra thị trường. Đây là mối quan hệ hai chiều giữa xúc tiến thương mại và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Ông Lê Hồng Quang cho rằng Việt Nam khó có thể tham gia mọi cuộc chơi công nghệ có quy mô rất lớn, chẳng hạn phát triển các mô hình AI quy mô lớn như các tập đoàn toàn cầu. Tuy nhiên, doanh nghiệp Việt có thể tận dụng lợi thế nguồn nhân lực để phát triển các ứng dụng trên những nền tảng đó.

Đặt trong góc độ xúc tiến thương mại, đây chính là bài toán xác định đúng thị trường và đúng lợi thế cạnh tranh. Xúc tiến thương mại vì thế cần chuyển từ tư duy “đưa sản phẩm đi quảng bá” sang “đưa năng lực Việt Nam vào thị trường”. Với ngành công nghệ, đó là đưa giải pháp Việt đến đúng khách hàng; với ngành điện tử, là đưa doanh nghiệp Việt đến đúng chuỗi cung ứng; với công nghiệp hỗ trợ, là kết nối đúng doanh nghiệp có nhu cầu với đúng nhà cung ứng. Khi đó, xúc tiến thương mại không còn là khâu đứng sau sản xuất mà trở thành một mắt xích của quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh.

Với ngành công nghệ và điện tử, xúc tiến thương mại cần chuyển từ quảng bá sản phẩm sang kết nối sâu hơn giữa doanh nghiệp, nhà cung ứng, nhà mua hàng và thị trường. Khi thông tin về nhu cầu, nguồn cung linh kiện và đối tác được kết nối, doanh nghiệp Việt có thêm cơ hội nâng cấp từ OEM lên ODM, từng bước xây dựng thương hiệu riêng. Đây cũng là nền tảng để gia tăng tỷ lệ nội địa hóa, nâng giá trị tạo ra trong nước và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.

Bảo Ngọc

Có thể bạn quan tâm