Chủ động dữ liệu quốc gia để tránh "thiệt đơn, thiệt kép"
Chiều 29/5, Mạng lưới EUDR Lâm nghiệp tổ chức webinar “Xây dựng bản đồ ranh giới rừng năm 2020 phục vụ tuân thủ EUDR”, với sự tham gia của cơ quan quản lý, chuyên gia kỹ thuật, địa phương và đại diện các ngành hàng xuất khẩu.
Xây dựng bản đồ ranh giới rừng 2020 sẽ là "lá chắn dữ liệu" cho ngành hàng xuất khẩu trước EUDR. Ảnh minh họa
Ông Trương Tất Đơ, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, yêu cầu cốt lõi của EUDR là hàng hóa phải được sản xuất không gây mất rừng sau ngày 31/12/2020, đồng thời tuân thủ pháp luật của quốc gia sản xuất. “Muốn chứng minh điều đó, trước hết, phải có tọa độ địa lý của lô sản xuất và phải có bản đồ ranh giới rừng năm 2020 để đối chiếu xem khu vực đó có vi phạm quy định chống mất rừng hay không”, ông Đơ nhấn mạnh.
Một trong những nội dung được nhấn mạnh nhiều nhất tại webinar là nếu Việt Nam không chủ động xây dựng bản đồ ranh giới rừng năm 2020, các nhà nhập khẩu châu Âu vẫn sẽ sử dụng các bộ dữ liệu che phủ rừng toàn cầu để thẩm định hàng hóa xuất khẩu. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, nhiều bộ dữ liệu quốc tế hiện nay chủ yếu được xây dựng từ ảnh vệ tinh có độ phân giải thấp hoặc trung bình, thiếu kiểm chứng thực địa nên có nguy cơ đánh giá sai hiện trạng sản xuất tại Việt Nam.
Ông Trương Tất Đơ dẫn ví dụ, tại nhiều vùng trồng cà phê, người dân sử dụng cây che bóng trong canh tác nhưng trên ảnh vệ tinh các khu vực này có thể bị nhận diện là rừng. Điều đó khiến các lô hàng xuất khẩu của Việt Nam đứng trước nguy cơ bị đánh giá sai là vi phạm quy định chống mất rừng. “Nếu chúng ta không có dữ liệu riêng, các đối tác nhập khẩu sẽ sử dụng dữ liệu quốc tế để đối chiếu và điều này có thể gây bất lợi cho ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam”, ông Đơ nói.
Chính vì vậy, Việt Nam đang xây dựng bộ dữ liệu bản đồ ranh giới rừng năm 2020 trên cơ sở kết hợp nhiều nguồn khác nhau, gồm bản đồ hiện trạng rừng năm 2020 của địa phương, dữ liệu viễn thám, ảnh vệ tinh đa thời gian và dữ liệu đối sánh quốc tế như UMD/GLAD hay Trung tâm Nghiên cứu chung của Liên minh châu Âu (JRC).
Theo nhóm chuyên gia, quy trình xây dựng bản đồ ranh giới rừng năm 2020 gồm 6 bước: chuẩn hóa dữ liệu rừng năm 2020; phân tích biến động bằng ảnh viễn thám; đối sánh với dữ liệu quốc tế; đánh giá độ tin cậy đa nguồn; rà soát xác nhận tại địa phương; công bố trên nền tảng dữ liệu trực tuyến.
Kết quả đối sánh được phân thành ba nhóm màu: xanh, vàng và đỏ. Trong đó, vùng xanh là khu vực các nguồn dữ liệu đều thống nhất; vùng vàng là khu vực còn có sai khác cần tiếp tục rà soát; còn vùng đỏ là khu vực có nguy cơ cao, liên quan trực tiếp đến các ngành hàng chịu tác động mạnh của EUDR như cà phê, cao su và gỗ.
Theo số liệu cập nhật từ 13 tỉnh đã gửi dữ liệu rà soát, vùng xanh hiện chiếm khoảng 54,2%, vùng vàng khoảng 45% và vùng đỏ chỉ khoảng 0,8%. Toàn bộ diện tích vùng đỏ đã được địa phương kiểm chứng thực địa.
Ông Tô Xuân Phúc, chuyên gia phân tích chính sách của Forest Trends, cho rằng ý nghĩa lớn nhất của việc xây dựng bản đồ ranh giới rừng năm 2020 là giúp Việt Nam chủ động tạo ra công cụ dữ liệu của riêng mình thay vì hoàn toàn phụ thuộc vào hệ thống dữ liệu bên ngoài. “Bản đồ này không nhằm tạo thêm thủ tục hay rào cản quản lý mà nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng cho các ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam”, ông Tô Xuân Phúc nhấn mạnh.
Bản đồ 1.0 chỉ là khởi đầu cho hệ dữ liệu mở phục vụ EUDR
Không chỉ dừng ở việc xây dựng một bộ bản đồ phục vụ trước mắt, các cơ quan quản lý và nhóm chuyên gia đang hướng tới hình thành một hệ thống dữ liệu mở, liên tục cập nhật để phục vụ EUDR trong dài hạn. Theo lộ trình, sau khi tiếp nhận đầy đủ kết quả rà soát từ 34 tỉnh, thành phố, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm sẽ công bố phiên bản 1.0 của bản đồ trên website của Cục để doanh nghiệp và các bên liên quan truy cập, sử dụng.
Dữ liệu sẽ tiếp tục được cập nhật theo hướng mở, tương tự cách làm của Trung tâm Nghiên cứu chung của Liên minh châu Âu (JRC), nhằm nâng cao độ chính xác và độ tin cậy qua các phiên bản 2.0, 3.0 hoặc cao hơn. Theo đại diện nhóm chuyên gia, hiện đã có 19/34 tỉnh, thành phố gửi dữ liệu hoàn chỉnh về trung ương. Các địa phương còn lại đang tiếp tục rà soát, xác minh và giải trình trước khi hoàn tất dữ liệu.
Khó khăn lớn nhất hiện nay là thiếu dữ liệu hiện trạng rừng năm 2020 tại một số địa phương, năng lực kỹ thuật chưa đồng đều và tâm lý lo ngại trách nhiệm khi dữ liệu mới có sai khác với bản đồ đã công bố trước đây. Để hỗ trợ địa phương, nhóm chuyên gia đã phát triển bộ công cụ rà soát miễn phí trên nền tảng mã nguồn mở, tích hợp dữ liệu ảnh Sentinel, Planet và Google Earth nhằm hỗ trợ kiểm chứng nhanh các lô nghi ngờ.
ThS. Phạm Ngọc Hải, Viện Điều tra Quy hoạch rừng, cho biết dữ liệu quốc tế như GFC hay JRC chỉ nên được xem là lớp dữ liệu tham chiếu chứ không phải dữ liệu pháp lý mang tính quyết định. Trong quá trình xử lý các khu vực “vùng đỏ”, “vùng vàng”, dữ liệu địa phương sẽ đóng vai trò quyết định cuối cùng bởi đây là nơi nắm rõ hiện trạng, hồ sơ giao đất, lịch sử canh tác và dữ liệu kiểm kê thực tế.
Đồng quan điểm, TS. Phạm Văn Duẩn, Viện Sinh thái rừng và Môi trường, cho biết việc xử lý dữ liệu hiện nay đang được triển khai theo hướng ưu tiên dữ liệu địa phương kết hợp ảnh viễn thám đa thời gian, trong khi dữ liệu quốc tế chủ yếu dùng để đối sánh.
“Trong phiên bản 1.0, chúng tôi vẫn phải giữ nguyên một số khu vực vùng vàng vì chưa đủ cơ sở kết luận hoàn toàn. Tuy nhiên, các phiên bản tiếp theo sẽ tiếp tục được cập nhật theo hướng ưu tiên dữ liệu địa phương và ảnh vệ tinh đa thời gian”, ông Duẩn nhấn mạnh.
Các chuyên gia cũng đánh giá mức độ rủi ro theo EUDR đối với các ngành hàng như cà phê, cao su và gỗ hiện ở mức tương đối cao, đặc biệt tại khu vực Tây Nguyên. Vì vậy, các địa phương cần tiếp tục bố trí nguồn lực, nhân lực và tài chính để rà soát kỹ dữ liệu trong các giai đoạn tiếp theo.
Theo thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong tháng 6/2026, EU dự kiến xây dựng “kho dữ liệu pháp lý” phục vụ EUDR và bản đồ ranh giới rừng của Việt Nam có thể được đưa vào hệ thống này cùng với các quy định liên quan tới đất đai, lâm nghiệp và truy xuất nguồn gốc.
Các chuyên gia cho rằng, nếu Việt Nam sở hữu một bộ dữ liệu có hàm lượng khoa học cao, được cập nhật thường xuyên và có xác nhận từ địa phương, đây sẽ là cơ sở quan trọng để doanh nghiệp giảm rủi ro khi xuất khẩu sang thị trường EU. Quan trọng hơn, việc chủ động xây dựng “lá chắn dữ liệu” không chỉ giúp ngành hàng xuất khẩu tránh nguy cơ bị đánh giá sai về mất rừng mà còn thể hiện năng lực quản trị dữ liệu, khả năng thích ứng với các tiêu chuẩn xanh toàn cầu ngày càng khắt khe.
Hiện, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm đang phối hợp với 34 tỉnh, thành phố cùng nhóm chuyên gia của Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam để hoàn thiện bản đồ. Dự kiến, phiên bản 1.0 sẽ được công bố trong vòng 1 - 2 tháng tới để doanh nghiệp và các bên liên quan sử dụng làm nguồn dữ liệu tham chiếu trong quá trình đánh giá rủi ro chuỗi cung ứng.