Thế giới tổ chức ngành điện và định giá điện thế nào? Kỳ 3 - Giá điện Việt Nam đang ở mức nào?

Giá điện Việt Nam ở mức 0,078 USD/kWh, bằng 52,2% mức trung vị của 134 nước. Mức giá này có đủ bù đắp chi phí và tạo nguồn vốn đầu tư cho hệ thống điện?

Kỳ 2 cho thấy truyền tải là xương sống của hệ thống điện nhưng chỉ chiếm khoảng 4% chi phí trong giá bán lẻ điện Việt Nam, trong khi khâu phát điện chiếm hơn 82%, theo Cục Điện lực. Vì vậy, đánh giá giá điện cao hay thấp, có đủ bù đắp chi phí hay không, cần nhìn vào khả năng giá bán theo kịp chi phí mua điện, thay vì chỉ xét ai nắm giữ lưới truyền tải. Kỳ này so sánh giá điện Việt Nam với 134 nước có số liệu, đồng thời đối chiếu với kết quả nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới tại 17 nền kinh tế đang phát triển trong 30 năm.

Giá điện Việt Nam rẻ hơn 99 nước 

Theo GlobalPetrolPrices.com, bình quân giai đoạn 2023-2026, giá điện cho hộ gia đình và doanh nghiệp tại Việt Nam cùng ở mức 0,078 USD/kWh, bằng khoảng 52% mức trung vị của 134 nước có số liệu. Xếp từ thấp lên, giá điện hộ gia đình Việt Nam đứng thứ 35, rẻ hơn 99 nước; giá điện doanh nghiệp đứng thứ 22.

Giá điện Việt Nam so với thế giới.

Giá điện Việt Nam so với thế giới.

Giá điện hộ gia đình tại 134 nước chênh lệch lớn: 47 nước dưới 0,10 USD/kWh; 38 nước từ 0,10 đến dưới 0,20 USD/kWh; 49 nước từ 0,20 USD/kWh trở lên. Thấp nhất là Ethiopia, ở mức 0,006 USD/kWh; cao nhất là Bermuda, với 0,464 USD/kWh, gấp khoảng 5,9 lần Việt Nam.

Việt Nam nằm trong nhóm 28 nước có giá từ 0,05 đến dưới 0,10 USD/kWh, cùng Trung Quốc và Ấn Độ - hai nước đều ở mức 0,076 USD/kWh. Báo cáo của Cục Điện lực gửi Bộ trưởng Bộ Công Thương ngày 13/10/2026 cũng nhận định giá điện sinh hoạt Việt Nam tương đương Trung Quốc, Ấn Độ và thấp hơn nhiều so với các nền kinh tế phát triển.

Phân bố giá điện hộ gia đình của 134 nước.

Phân bố giá điện hộ gia đình của 134 nước.

Trong 8 nước ASEAN có số liệu, giá điện hộ gia đình Việt Nam thấp thứ ba, sau Myanmar (0,025 USD/kWh) và Malaysia (0,049 USD/kWh). Giá điện doanh nghiệp thấp thứ hai, chỉ cao hơn Indonesia. So với Việt Nam, giá điện Thái Lan cao hơn 60% ở cả hai nhóm khách hàng; riêng giá điện hộ gia đình Singapore cao gấp 3 lần, Philippines gấp 2,7 lần.

Giá điện 8 nước ASEAN có số liệu, USD/kWh.

Giá điện 8 nước ASEAN có số liệu, USD/kWh.

Đáng chú ý, trong 134 nước có số liệu, chỉ Việt Nam và Bulgaria có giá điện bình quân cho doanh nghiệp bằng hộ gia đình; 65 nước có giá doanh nghiệp cao hơn, 67 nước có giá thấp hơn. Tại Malaysia, doanh nghiệp trả 0,129 USD/kWh, gấp 2,6 lần hộ gia đình. Trung Quốc và Ấn Độ cũng áp dụng giá điện doanh nghiệp cao hơn giá hộ gia đình.

Ngành điện nỗ lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế.

Ngành điện nỗ lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế.

Tuy nhiên, số liệu bình quân chưa phản ánh cơ cấu biểu giá và chi phí cung ứng cho từng nhóm khách hàng, nên chưa đủ để kết luận mức độ bù chéo. Theo Cục Điện lực, giá bán lẻ điện bình quân cho sản xuất hiện bằng khoảng 87% giá bình quân toàn quốc, tương ứng 1.917,5 đồng/kWh, hay khoảng 7,3 cent Mỹ/kWh.

Thấp hơn 31% so với nhóm nước cùng mức thu nhập

Trước hết, mặt bằng giá điện có xu hướng tăng theo thu nhập, khi chia 130 nước có đủ dữ liệu thành bốn nhóm thu nhập bằng nhau, nhóm thấp nhất, với GDP bình quân đầu người dưới 3.500 USD, có giá điện hộ gia đình trung vị là 0,087 USD/kWh. Ở nhóm cao nhất, với GDP từ 34.400 USD/người trở lên, mức giá này là 0,259 USD/kWh. Hệ số tương quan hạng đạt 0,507, cho thấy mối liên hệ thuận ở mức vừa giữa thu nhập và giá điện.

Việt Nam có GDP bình quân đầu người năm 2025 là 5.066 USD, thuộc nhóm thu nhập thứ hai. Giá điện Việt Nam ở mức 0,078 USD/kWh, thấp hơn khoảng 31% so với trung vị của nhóm này là 0,1125 USD/kWh.

Nguồn điện ổn định tiếp sức cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Nguồn điện ổn định tiếp sức cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Yếu tố thứ hai là cơ cấu nguồn điện. Trong 134 nước, nhóm 30 nước có thủy điện chiếm ít nhất 50% sản lượng có giá điện hộ gia đình trung vị là 0,110 USD/kWh. Nhóm 32 nước có điện hóa thạch chiếm ít nhất 80% có mức trung vị thấp hơn, ở 0,0965 USD/kWh; trong nhóm này có nhiều nước xuất khẩu dầu khí và trợ giá điện.

Trong khi đó, nhóm 34 nước có điện gió và mặt trời chiếm ít nhất 20% sản lượng có giá điện trung vị là 0,2475 USD/kWh, gấp 2,8 lần nhóm 53 nước có tỷ trọng dưới 5%. Tuy nhiên, chênh lệch này chưa đủ để kết luận điện gió và mặt trời làm tăng giá bán lẻ, bởi giá còn chịu tác động của thu nhập, thuế, trợ giá và chi phí hệ thống.

Theo Ember, năm 2025, Việt Nam sản xuất 310 tỷ kWh điện, trong đó than chiếm 48,14%, thủy điện 33,02%, gió và mặt trời 12,08%, khí 6,24%. Việt Nam vì vậy không thuộc nhóm thủy điện chiếm ưu thế hay nhóm phụ thuộc lớn vào điện hóa thạch theo các ngưỡng so sánh trên.

Giá điện hộ gia đình trung vị theo nhóm cơ cấu nguồn.

Giá điện hộ gia đình trung vị theo nhóm cơ cấu nguồn.

Yếu tố tiếp theo là thuế phí. Giá điện hộ gia đình EU27 kỳ 2025-S2 theo Eurostat là 0,2896 euro/kWh có thuế và 0,2059 euro/kWh chưa thuế; cấu phần năm 2025 gồm năng lượng và cung ứng 43,2%, chi phí lưới 28,2%, thuế phí 28,6%. Nghĩa là gần ba phần mười số tiền một hộ châu Âu trả không phải tiền điện, mà là thuế, phí môi trường và phí hỗ trợ tái tạo. Cục Điện lực nhận định giá điện châu Âu gấp khoảng hơn 5 lần Việt Nam; Đức gấp 5,2 lần, Pháp 3,5 lần, Nhật Bản 2,9 lần, Hàn Quốc 1,6 lần ở nhóm hộ gia đình. So sánh ấy chỉ có nghĩa khi nhớ rằng phần thuế phí và chi phí lưới của châu Âu không cùng gốc tính với cơ cấu chi phí của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).

Chỉ 2 trong 17 địa phương có giá điện bù đủ chi phí, Việt Nam đạt 89%

Giá điện tại các nền kinh tế đang phát triển hiếm khi bù đủ chi phí cung ứng, ngay cả ở những nơi có chi phí thấp. Đây là một kết luận trong nghiên cứu năm 2020 của Huenteler và cộng sự thuộc Ngân hàng Thế giới, khảo sát 14 quốc gia và 3 bang của Ấn Độ. Chỉ 2 trong 17 địa bàn có giá điện bù đủ chi phí cung ứng; 7 địa bàn thậm chí không thu đủ để trang trải chi phí vận hành.

Trong gần 30 năm, tỷ lệ thu hồi chi phí bình quân tăng từ 69% vào khoảng năm 1990 lên 79% trong giai đoạn 2010-2017. Tuy nhiên, mức cải thiện chủ yếu đến từ một số quốc gia có kết quả tốt; hơn một nửa số địa bàn khảo sát có tỷ lệ thu hồi chi phí giảm so với trước cải cách.

Bù đủ chi phí ở nước đang phát triển.

Bù đủ chi phí ở nước đang phát triển.

Trong mẫu nghiên cứu, Việt Nam thuộc nhóm có tỷ lệ thu hồi chi phí tương đối cao và ổn định. Giai đoạn 2010-2017, doanh thu bán điện bù đắp bình quân 89% chi phí cung ứng, dao động từ 86% đến 91%. Có thể hiểu, cứ 100 đồng chi phí cung ứng điện thì thu về 89 đồng từ bán điện.

Hệ số biến thiên của Việt Nam chỉ ở mức 2,1%, cùng Philippines và bang Odisha của Ấn Độ (đều 1,7%) thuộc ba địa bàn có tỷ lệ thu hồi chi phí ổn định nhất mẫu. Ukraine và Colombia dẫn đầu về mức thu hồi chi phí, lần lượt đạt 109% và 104%; trong khi Pakistan đạt 80%, Tanzania 68% và Tajikistan 67%.

Mức bù chi phí của giá điện, trung bình 2010 tới 2017.

Mức bù chi phí của giá điện, trung bình 2010 tới 2017.

Nghiên cứu cũng ghi nhận mối liên hệ giữa bù chéo và khả năng thu hồi chi phí. Trong 17 địa bàn khảo sát, cả 5 nơi có chỉ số bù chéo trên 15% đều chỉ thu hồi được dưới 80% chi phí cung ứng điện. Pakistan, Ai Cập, Tanzania và bang Andhra Pradesh của Ấn Độ thuộc nhóm bù chéo lớn, thu hồi chi phí thấp; Colombia, Philippines và Việt Nam có xu hướng ngược lại. Kết quả này cho thấy cần hạn chế bù chéo để cải thiện khả năng thu hồi chi phí, nhưng riêng biện pháp đó chưa đủ.

Tình trạng bù chéo cũng khá phổ biến, theo Foster và Rana trong cuốn sách do Ngân hàng Thế giới xuất bản năm 2019, khoảng ba phần tư trong số 88 nước đang phát triển được khảo sát áp dụng bù chéo giữa khách hàng thương mại và sinh hoạt. Bình quân, khách hàng thương mại trả giá điện cao hơn gấp đôi khách hàng sinh hoạt. Tuy nhiên, Kessides lưu ý trong nghiên cứu năm 2012 của Ngân hàng Thế giới rằng phần lớn lợi ích từ bù chéo không đến được đúng nhóm cần hỗ trợ.

Ngành điện đồng hành cùng sự phát triển kinh tế đất nước.

Ngành điện đồng hành cùng sự phát triển kinh tế đất nước.

Giá điện không bù đủ chi phí không làm phần thiếu hụt biến mất, mà chuyển gánh nặng sang doanh nghiệp điện, ngân sách và các nhà cung cấp. Huenteler và cộng sự ước tính thâm hụt mang tính ngân sách của ngành điện - gồm phần thiếu hụt do bán điện dưới chi phí, tiền điện không thu được và tổn thất vượt chuẩn - bình quân tương đương 0,93% GDP trong mẫu 17 địa bàn. Bán điện dưới chi phí là nguyên nhân lớn nhất tại 9 địa bàn.

Theo nghiên cứu, hỗ trợ của chính phủ nhìn chung chưa đủ để khôi phục sức khỏe tài chính của doanh nghiệp điện. Tại Pakistan, thiếu hụt dòng tiền kéo theo chuỗi nợ từ đơn vị phân phối đến truyền tải, nhà máy điện và nhà cung cấp nhiên liệu. Một nghiên cứu khác của Ngân hàng Thế giới năm 2024 (WPS 10986) ghi nhận Ecuador phải quay lại mô hình tổ chức tập trung hơn trong bối cảnh giá điện thấp hơn chi phí khoảng 44%, gây thâm hụt và tích tụ nợ lớn.

Giá điện giữ nguyên 17 tháng: Hiểu đúng các ngưỡng 2%, 1%, 10%

Cơ chế giá điện Việt Nam đã có khung để đi về phía bù đủ chi phí. Theo Cục Điện lực, Việt Nam đã có khung pháp lý để giá điện phản ánh biến động chi phí cung ứng. Điều 52 Luật Điện lực số 61/2024/QH15 quy định giá bán lẻ điện được điều chỉnh kịp thời theo biến động thực tế của thông số đầu vào, bù đắp chi phí hợp lý, hợp lệ và có lợi nhuận hợp lý để bảo toàn, phát triển vốn kinh doanh, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội từng thời kỳ. Theo Điều 50 của luật này, đơn vị bán lẻ điện xây dựng giá bán lẻ; Chính phủ quy định cơ chế, thời gian điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân; Thủ tướng Chính phủ quy định khung giá và cơ cấu biểu giá; Bộ Công Thương xây dựng, trình các quy định này.

Quyết định số 07/2025/QĐ-TTg ngày 31/3/2025 quy định khung giá bán lẻ điện bình quân từ 1.826,22 đến 2.444,09 đồng/kWh, chưa gồm VAT. Cơ chế điều chỉnh thực hiện theo Nghị định số 72/2025/NĐ-CP ngày 28/3/2025, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 278/2026/NĐ-CP ngày 9/7/2026.

Ngành điện giữ vai trò quan trọng trong hành trình phát triển đất nước.

Ngành điện giữ vai trò quan trọng trong hành trình phát triển đất nước.

Hằng năm, giá được xem xét trên cơ sở biến động khách quan của thông số đầu vào ở tất cả các khâu và việc phân bổ các khoản chi phí khác chưa được tính vào giá điện. Trong năm, EVN cập nhật chi phí khâu phát điện, chi phí mua điện từ các nhà máy cung cấp dịch vụ phụ trợ và các khoản chi phí khác chưa được tính vào giá để tính toán lại. Khoảng cách tối thiểu giữa hai lần điều chỉnh là ba tháng, không có nghĩa cứ ba tháng giá điện phải thay đổi.

Theo quy định sau sửa đổi, nếu giá tính toán giảm dưới 1% hoặc tăng dưới 2%, EVN phải báo cáo Bộ Công Thương về việc không điều chỉnh và gửi hồ sơ để kiểm tra, giám sát. Nếu giảm từ 1% trở lên hoặc tăng từ 2% đến dưới 5%, EVN lập phương án trình Bộ Công Thương kiểm tra, rà soát; chỉ quyết định điều chỉnh sau khi Bộ có ý kiến bằng văn bản. Bộ có thời hạn 15 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ để cho ý kiến.

Nếu tăng từ 5% đến dưới 10%, EVN chỉ được điều chỉnh sau khi Bộ Công Thương chấp thuận. Nếu tăng từ 10% trở lên, Bộ chủ trì kiểm tra, lấy ý kiến các bộ, cơ quan liên quan và báo cáo Chính phủ xem xét, cho ý kiến; trường hợp cần thiết, báo cáo Ban Chỉ đạo điều hành giá trước khi báo cáo Chính phủ. Việc điều chỉnh phải nằm trong khung giá do Thủ tướng quy định, được thực hiện công khai, minh bạch.

Thực tế cho thấy giá điện không nhất thiết thay đổi theo từng kỳ rà soát. Mức giá bán lẻ điện bình quân 2.204,0655 đồng/kWh, chưa gồm VAT, được áp dụng từ ngày 10/5/2025. Tính đến ngày 16/10/2026, mức giá này đã duy trì hơn 17 tháng. Nếu quy đổi theo tỷ giá bán USD của Vietcombank cuối quý I/2026 là 26.357 đồng/USD, mức giá tương đương khoảng 0,084 USD/kWh.

Trong khung giá từ 1.826,22 đến 2.444,09 đồng/kWh, giá hiện hành nằm ở khoảng 61,2% chiều rộng khung tính từ mức sàn và thấp hơn mức trần khoảng 240 đồng/kWh. Đây là vị trí trong khung giá, không phản ánh tỷ lệ bù đắp chi phí cung ứng điện. So với mức 1.864,44 đồng/kWh áp dụng từ ngày 20/3/2019, giá bán lẻ điện bình quân đã tăng cộng dồn khoảng 18,2%, qua bốn lần điều chỉnh: tăng 3% vào tháng 5/2023, 4,5% vào tháng 11/2023, 4,8% vào tháng 10/2024 và 4,8% vào tháng 5/2025.

Về dài hạn, chi phí cung ứng điện chịu sức ép từ biến động giá nhiên liệu, tỷ giá và nhu cầu đầu tư nguồn, lưới điện. Dư địa phát triển mới thủy điện lớn và vừa ngày càng hạn chế, trong khi nhu cầu điện tăng làm gia tăng yêu cầu bổ sung nguồn và sử dụng nhiên liệu nhập khẩu.

Giá bán lẻ điện ình quân hiện hành.

Giá bán lẻ điện ình quân hiện hành.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy thời điểm và tần suất điều chỉnh giá cũng quan trọng như mức điều chỉnh. Uganda nâng tỷ lệ thu hồi chi phí thêm 64 điểm phần trăm nhờ cập nhật giá hằng năm và áp dụng cơ chế điều chỉnh tự động hằng quý theo lạm phát, tỷ giá và giá dầu. 5 trong 8 nước cải thiện được khả năng thu hồi chi phí, kết hợp tăng giá với giảm chi phí.

Tuy nhiên, khoảng cách giữa quy định và thực thi vẫn lớn. Foster và Rana ghi nhận cơ quan điều tiết được luật trao quyền định giá tại 94% số nước khảo sát, nhưng quyền này chỉ được tôn trọng trên thực tế ở 65%. Theo Huenteler và cộng sự, điều chỉnh giá điện vẫn là một trong những cải cách khó khăn nhất về chính trị; nhiều nước chỉ bắt đầu cải cách theo hướng bù đắp chi phí khi ngành điện đã rơi vào khủng hoảng.

Giá điện bù đắp chi phí: Nền tảng cho cải cách thị trường

Các nghiên cứu nền tảng nhấn mạnh việc điều chỉnh giá điện cần đi trước hoặc song hành với cải cách thị trường. Theo Kessides, trình tự lý tưởng là đưa giá điện về mức thu hồi chi phí, xây dựng thể chế điều tiết, tái cấu trúc ngành rồi mới tiến tới tư nhân hóa. Chile là một ví dụ về cải cách biểu giá trước khi tư nhân hóa.

Foster và Rana đưa ra các ngưỡng tham chiếu để đánh giá mức độ sẵn sàng cho cơ quan điều tiết độc lập và cải cách sâu hơn: thu hồi trên 70% chi phí, thu được trên 90% tiền điện phải thu, tổn thất điện năng dưới 15% và tỷ lệ điện khí hóa trên 80%. Với doanh nghiệp điện nhà nước, mục tiêu ban đầu có thể là bảo đảm nguồn thu để trang trải chi phí và nghĩa vụ trả nợ hiện hữu. Chính sách giá và trợ cấp cần được xem xét đồng thời.

Ngành điện hướng tới vận hành an toàn, hiệu quả và bền vững.

Ngành điện hướng tới vận hành an toàn, hiệu quả và bền vững.

Trong mẫu nghiên cứu của Huenteler, Việt Nam có hai điểm thuận lợi: tỷ lệ thu hồi chi phí bình quân đạt 89% trong giai đoạn 2010-2017 và mức bù chéo thấp. Tuy nhiên, đây là kết quả của giai đoạn nghiên cứu, không phản ánh trực tiếp khả năng bù đắp chi phí hiện nay.

Một vấn đề cần làm rõ khi tái cơ cấu là cơ chế chia sẻ chi phí giữa các vùng. Chính sách áp dụng giá điện thống nhất giúp người dân ở những nơi có chi phí cấp điện cao được tiếp cận điện với mức giá tương đương khu vực thuận lợi hơn. Huenteler xem biểu giá thống nhất là một hình thức bù chéo ngầm giữa các vùng. Foster và Rana lưu ý, khi ngành điện được tách thành các đơn vị độc lập, cơ chế chia sẻ này cần được thể hiện minh bạch qua phụ thu hoặc các khoản chuyển giao tài chính. Vì vậy, tách bạch chi phí truyền tải, phân phối và bán lẻ cũng đòi hỏi xác định rõ ai đóng góp, ai được hỗ trợ và nguồn kinh phí thực hiện.

Theo bộ dữ liệu sử dụng trong bài, giá điện Việt Nam bằng khoảng một nửa mức trung vị của 134 nước có số liệu. Tuy nhiên, chênh lệch giá không thể chỉ giải thích bằng mô hình tổ chức ngành điện; còn phải xem xét thu nhập, cơ cấu nguồn, thuế, phí và chính sách hỗ trợ. Mức giá thấp cũng chưa đủ để kết luận ngành điện đang thu hồi đầy đủ chi phí.

Kessides cảnh báo tự do hóa thị trường không bảo đảm giá bán lẻ sẽ giảm. Tại những nước duy trì giá dưới chi phí, cải cách có thể đi kèm tăng giá để khôi phục cân đối tài chính. Kỳ 4 sẽ đối chiếu dữ liệu của 51 nước có cả chỉ số mở cửa thị trường và giá điện, làm rõ mối liên hệ giữa mức độ cạnh tranh và giá bán lẻ, từ đó xem xét câu hỏi: tách các khâu trong EVN và mở cửa thị trường có giúp điện rẻ hơn không?

Còn nữa...

Lâm Vỹ Sơn

Có thể bạn quan tâm