Đường dây nóng: 0866.59.4498 - Thứ hai 10/12/2018 14:39

Tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu: Giải pháp cho xuất khẩu bền vững

10:23 | 29/11/2018
Đây là nội dung được thảo luận tại Diễn đàn Xuất khẩu Việt Nam với chủ đề “Tăng cường liên kết của Việt Nam vào chuỗi cung ứng toàn cầu” do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Phòng Thương mại Hoa Kỳ (Amcham) và Hiệp hội Doanh nghiệp Nhật Bản tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh ngày 28/11.  

Tăng trưởng lạc quan nhưng chưa bền vững

Theo ông Võ Tân Thành, Phó Giám đốc VCCI, năm 2018 kim ngạch xuất khẩu cả nước dự kiến đạt 240 tỉ USD, tăng 10% - 12% so với năm 2017. Đến hết 10 tháng, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt trên 200 tỉ USD, tăng 14,2% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực trong nước đạt 56,82 tỉ USD, tăng 16,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đạt 143,45 tỉ USD, tăng 13,2%.

Kim ngạch một số mặt hàng chủ lực như điện thoại và linh kiện, dệt may, điện tử và máy tính, thủy sản… tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước. Tình hình xuất khẩu của Việt Nam rất khả quan với hàng loạt hiệp định thương mại tự do (FTA) đã được ký kết và có hiệu lực. Đặc biệt, FTA Việt Nam - EU và Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) sẽ là cơ hội lớn cho Việt Nam trong việc mở rộng thị phần xuất khẩu.

tham gia vao chuoi cung ung toan cau giai phap cho xuat khau ben vung
Hàng Việt xuất khẩu qua hệ thống siêu thị tại Singapore

Liên quan đến hiệu quả của các FTA đối với hoạt động XK của Việt Nam, ông Takimoto Koji, Phó Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp (DN) Nhật Bản tại Việt Nam cho rằng tuy CPTPP chỉ chiếm khoảng 2,6% lượng XK của Việt Nam nhưng đây lại là nền tảng để cho các quốc gia ở châu Á- Thái Bình Dương cùng tham gia khi Hiệp định này có hiệu lực. Cùng với đó, FTA Việt Nam - EU dự kiến sẽ được thực thi vào năm 2019 sẽ là một FTA quan trọng do chiếm tới 19% lượng XK của Việt Nam. Ngoài ra, các FTA đã ký kết cũng chiếm khoảng 40,6% lượng hàng hoá XK của Việt Nam. Do vậy, giải pháp cho các DN là phải tận dụng hiệu quả các FTA đã ký kết. Theo điều tra của Văn phòng JETRO tại Việt Nam chỉ có khoảng 40% DN Nhật Bản tại Việt Nam tận dụng được các FTA- tỷ lệ này là khá thấp- ông Takimoto Koji chia sẻ.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, Việt Nam xuất siêu nhưng chưa bền vững do phụ thuộc vào khối DN FDI. Các DN FDI đang chiếm đến 70% tổng kim ngạch xuất khẩu. Trang thiết bị, công nghệ, nguyên liệu sản xuất để xuất khẩu cũng phụ thuộc nước ngoài hơn 70% nên giá trị gia tăng xuất khẩu không cao.

Cần tham gia các chuỗi cung ứng toàn cầu

Bàn về các giải pháp nâng cao vai trò của DN XK Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu, các chuyên gia cho rằng, phải tham gia được vào các chuỗi cung ứng toàn cầu. Ông Ron Ashkin, Giám đốc dự án USAID Link SMS cho rằng, các DN vừa và nhỏ (SMS) Việt Nam chiếm 98% tổng số DN nhưng chỉ chiếm 45% GDP và chỉ có 21% DN SMS có hoạt động cung ứng cho các DN lớn. Nguyên nhân là do các DN FDI đang chiếm tới 70% kim ngạch XK. Bên cạnh đó, rào cản của các SMS là chuỗi cung ứng chưa có, không có năng suất cao, công nghệ, kinh nghiệm, nhân lực, quản lý yếu. Vì thế các DN XK trong nước phải chủ động phân tích năng lực, điểm mạnh - yếu của mình cũng như nắm bắt thông tin nhà mua hàng cần gì, khả năng đáp ứng của DN đến đâu… Bên cạnh đó, cần ưu tiên các việc cần làm và tập trung các nguồn lực để đáp ứng yêu cầu của khách hàng.

Ông Takimoto Koji cho biết thêm, kết quả khảo sát hoạt động sản xuất, kinh doanh của các DN Nhật Bản tại Việt Nam cũng cho thấy, tuy tỷ lệ sử dụng nguyên phụ liệu của các DN Nhật Bản tại Việt Nam đã tăng từ 22,7% trong năm 2013 lên 33,2% trong năm 2018 nhưng tỷ lệ này vẫn là rất thấp. Do vậy các DN Việt Nam vẫn có cơ hội phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ để nâng cao giá trị gia tăng cho hàng XK.

Một yếu tố khác đảm bảo sự hoạt động của DN XNK trong tình hình hiện nay, theo Đại diện Vinacontrol là các DN phải tiếp cận và sử dụng được hệ thống trao đổi dữ liệu giao dịch điện tử (EDI). Thực tế cho thấy, một số DN XK và logistics lớn của Việt Nam đã nhận được các yêu cầu giao nhận chứng từ liên quan đến giao dịch hàng hoá qua EDI từ các đối tác nước ngoài. So với các phương thức truyền thống là email và fax, hệ thống EDI giúp tiết kiệm chi phí và nhân lực cho các đối tác trong các giao dịch hàng hoá. Các chứng từ sẽ được gửi tự động qua hệ thống EDI của các nhà XK sang hệ thống EDI của các nhà NK một cách nhanh chóng, chính xác mà không cần có con người can thiệp vào. Do vậy, đây là mô hình các đối tác nước ngoài đang hướng đến để bảo đảm sự minh bạch và tiết kiệm. Nếu các DN không tiếp cận được mô hình này thì sẽ phải chịu phát sinh thêm chi phí cho mỗi đơn hàng, thậm chí mà mất khách hàng…

Thảo - Dương