Tạo dư địa mới cho doanh nghiệp trong chuỗi giá trị dầu khí

Hoàn thiện cơ chế chính sách, tháo gỡ điểm nghẽn đầu tư và tăng cường liên kết là những giải pháp quan trọng nhằm mở rộng dư địa phát triển chuỗi giá trị dầu khí.

Ngành dầu khí Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội phát triển, đặc biệt trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng và yêu cầu mở rộng chuỗi giá trị. Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả tiềm năng, cần tiếp tục tháo gỡ những điểm nghẽn về cơ chế, chính sách, thúc đẩy đầu tư, nâng cao năng lực doanh nghiệp và tăng cường liên kết trong chuỗi cung ứng.

Để làm rõ những cơ hội, thách thức và giải pháp tạo dư địa phát triển mới cho doanh nghiệp trong chuỗi giá trị dầu khí, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với Anh hùng Lao động, TS. Nguyễn Hùng Dũng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Dầu khí Việt Nam.

Tạo đà nâng tầm chuỗi giá trị dầu khí

- Luật Dầu khí (sửa đổi) mở ra những cơ hội mới cho ngành dầu khí và các doanh nghiệp liên quan. Theo ông, doanh nghiệp cần chuẩn bị những gì và cần thêm điều kiện nào về chính sách để triển khai hiệu quả các dự án hiện có, phát triển dự án mới cũng như ứng dụng công nghệ, gia tăng giá trị cho ngành?

TS. Nguyễn Hùng Dũng: Ngành dầu khí đang có nhiều cơ hội phát triển, nhưng có cơ hội không đồng nghĩa với việc có thể biến ngay thành những dự án khả thi. Để làm được điều đó, cần sự vào cuộc đồng bộ từ hoàn thiện thể chế, chỉ đạo, điều hành đến tổ chức thực hiện và triển khai hợp đồng.

Có thể nhìn từ các dự án điện khí LNG. Nhu cầu phát triển nguồn điện này đã được xác định, nhiều nhà đầu tư cũng bày tỏ sự quan tâm. Tuy nhiên, việc lựa chọn nhà đầu tư, thu xếp tài chính, đàm phán hợp đồng mua bán điện và xác lập cơ chế giá vẫn còn những vướng mắc. Những dự án năng lượng có tổng mức đầu tư rất lớn, trong khi nhà đầu tư phải tính toán khả năng huy động công suất, doanh thu và thời gian thu hồi vốn. Nếu không có cơ chế đủ rõ ràng và ổn định, họ khó có cơ sở để quyết định đầu tư.

Anh hùng Lao động, TS. Nguyễn Hùng Dũng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Dầu khí Việt Nam.

Anh hùng Lao động, TS. Nguyễn Hùng Dũng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Dầu khí Việt Nam.

Bài toán ở đây là cân bằng giữa yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng, mong muốn có giá điện hợp lý và nhu cầu bảo đảm hiệu quả đầu tư. Giá thiết bị, công nghệ, vốn và các dịch vụ quốc tế là những yếu tố không thể tùy ý quyết định. Do đó, cơ chế giá điện, phương án huy động và các cam kết trong hợp đồng cần được làm rõ để hạn chế rủi ro cho các bên.

Đối với các chính sách mới về phân cấp, phân quyền trong Luật Dầu khí (sửa đổi) cho Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), tôi cho rằng, đây là bước tiến đáng kỳ vọng, nhưng việc thực thi sẽ không đơn giản. Tập đoàn đồng thời thực hiện nhiều vai trò, từ đại diện phía nước chủ nhà đến tham gia đầu tư và triển khai dự án. Vì vậy, cần phân định rành mạch chức năng, thẩm quyền và trách nhiệm, bảo đảm tính minh bạch, kiểm soát được rủi ro nhưng không làm triệt tiêu sự chủ động.

Một yếu tố quan trọng khác là trách nhiệm của người ra quyết định. Các dự án dầu khí và năng lượng đều kéo dài nhiều năm; nếu quyết định bị trì hoãn, chi phí có thể gia tăng, cơ hội đầu tư bị bỏ lỡ và hiệu quả kinh tế suy giảm. Vì vậy, bên cạnh khung pháp lý thông thoáng, cần cơ chế thực thi rõ ràng để người có thẩm quyền dám quyết định và chịu trách nhiệm trong phạm vi được giao.

- Để phát triển chuỗi giá trị dầu khí, cần tăng sự tham gia của doanh nghiệp dịch vụ kỹ thuật và công nghiệp hỗ trợ trong nước. Theo ông, đâu là giải pháp giúp các doanh nghiệp này kết nối hiệu quả với những đầu tàu như Petrovietnam, nâng tỷ lệ nội địa hóa và tạo thêm giá trị trong chuỗi cung ứng?

TS. Nguyễn Hùng Dũng: Từ kinh nghiệm trực tiếp trong hoạt động dịch vụ kỹ thuật dầu khí, tôi cho rằng, doanh nghiệp Việt Nam đã có những bước trưởng thành đáng kể, nhưng quá trình đó đòi hỏi thời gian, đầu tư và cả việc rút kinh nghiệm từ những dự án chưa thành công.

Trước đây, khi mở rộng ra thị trường nước ngoài, chúng tôi từng nghiên cứu, triển khai hoạt động tại một số quốc gia. Thực tiễn cho thấy, không phải thị trường giàu tiềm năng nào cũng phù hợp để đầu tư. Môi trường chính trị, pháp lý, yêu cầu về tỷ lệ sở hữu và quyền quản lý doanh nghiệp đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hoạt động lâu dài. Vì vậy, lựa chọn thị trường và đối tác phải được đặt trên cơ sở đánh giá rủi ro một cách thận trọng.

Trong lĩnh vực dịch vụ kỹ thuật, giai đoạn đầu doanh nghiệp trong nước còn phụ thuộc nhiều vào các nhà thầu nước ngoài về thiết kế, chế tạo, thi công và vận hành. Thông qua hợp tác, đào tạo nhân lực và tiếp nhận công nghệ, năng lực trong nước từng bước được nâng lên. Đến nay, doanh nghiệp Việt Nam đã có thể đảm nhận nhiều công đoạn quan trọng, từ thiết kế, chế tạo đến vận chuyển, lắp đặt, đấu nối và chạy thử một số công trình.

Với các dự án lớn, một doanh nghiệp khó có thể thực hiện toàn bộ công việc. Điều cần thiết là hình thành mạng lưới nhà thầu và doanh nghiệp hỗ trợ đủ năng lực tham gia vào từng hạng mục. Để làm được điều đó, trước hết phải có cơ chế, chính sách rõ ràng, ổn định; quy trình phê duyệt và triển khai dự án hợp lý để tránh kéo dài thời gian, làm tăng chi phí.

Các công trình, dự án trọng điểm cũng cần công khai sớm danh mục công việc, yêu cầu kỹ thuật và kế hoạch mua sắm để doanh nghiệp trong nước chủ động chuẩn bị. Có thể ưu tiên tạo cơ hội tham gia cho những doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn, song phải bảo đảm cạnh tranh công bằng, hiệu quả kinh tế và chất lượng công trình, không áp dụng biện pháp bảo hộ cứng nhắc.

Một giải pháp quan trọng khác là xây dựng cơ sở dữ liệu về năng lực, kinh nghiệm, chất lượng và kết quả thực hiện của các nhà thầu. Việc này giúp doanh nghiệp đầu tàu lựa chọn đối tác phù hợp, đồng thời tăng tính minh bạch trong liên kết chuỗi. Bản thân các doanh nghiệp dịch vụ cũng phải đổi mới quản trị, đào tạo nhân lực, kiểm soát chi phí, nâng cao năng lực công nghệ và bảo đảm an toàn. Chỉ khi các bên sẵn sàng hợp tác, chia sẻ cơ hội và cùng đáp ứng yêu cầu của thị trường, liên kết mới có thể bền vững.

Tận dụng hạ tầng, mở hướng đi mới

- Từ góc độ đại diện cộng đồng doanh nghiệp dầu khí, ông có kiến nghị gì để ngành thực hiện lộ trình chuyển dịch sang tăng trưởng xanh, vừa bảo đảm hiệu quả sản xuất, kinh doanh, vừa đáp ứng yêu cầu giảm phát thải trong khi chi phí đầu tư ngày càng lớn?

TS. Nguyễn Hùng Dũng: Quá trình chuyển dịch năng lượng luôn có cả cơ hội và thách thức. Đối với ngành dầu khí, không chỉ cần tính đến các dự án mới mà còn phải giải quyết những vấn đề phát sinh trong vòng đời của các công trình hiện hữu, từ khai thác, vận hành đến thu dọn, tháo dỡ khi kết thúc dự án. Vì vậy, việc tận dụng tối đa cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và nguồn nhân lực đã đầu tư cần được xem là một hướng đi quan trọng.

Chuyển dịch năng lượng mở ra không gian phát triển mới cho ngành dầu khí, đòi hỏi doanh nghiệp nâng cao năng lực, đổi mới công nghệ và tăng cường liên kết chuỗi.

Chuyển dịch năng lượng mở ra không gian phát triển mới cho ngành dầu khí, đòi hỏi doanh nghiệp nâng cao năng lực, đổi mới công nghệ và tăng cường liên kết chuỗi.

Petrovietnam đang nghiên cứu khả năng phát triển những dự án năng lượng mới gắn với hạ tầng dầu khí ngoài khơi, như điện gió, các giải pháp thu giữ và lưu trữ CO2, cũng như những hoạt động có thể khai thác kinh nghiệm và năng lực kỹ thuật sẵn có. Nếu tận dụng được hạ tầng, đội ngũ chuyên gia và chuỗi dịch vụ hiện hữu, chi phí chuyển đổi có thể được giảm bớt, đồng thời mở ra công việc mới cho doanh nghiệp và người lao động.

Tuy nhiên, việc chuyển đổi không thể chỉ dựa vào năng lực sẵn có. Doanh nghiệp cần hợp tác với các đối tác quốc tế, tiếp nhận công nghệ, đào tạo lại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Những lĩnh vực mới, đặc biệt là điện hạt nhân, đòi hỏi yêu cầu rất cao về an toàn, chất lượng công trình, khả năng vận hành và năng lực quản trị rủi ro. Do đó, phải có cơ chế chính sách và sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan, đơn vị.

Một khó khăn lớn của các dự án năng lượng là quy mô vốn đầu tư cao, thời gian chuẩn bị kéo dài và sự phụ thuộc vào thị trường thiết bị quốc tế. Nếu cơ chế huy động, tiêu thụ sản phẩm và thu hồi vốn không rõ ràng, doanh nghiệp sẽ đối mặt với khó khăn. Đây là vấn đề phải được giải quyết từ khi chuẩn bị dự án, thay vì chờ đến lúc hoàn thành đầu tư.

Về phía Petrovietnam, yêu cầu đặt ra là duy trì hoạt động khai thác dầu khí, bảo đảm tăng trưởng và việc làm, đồng thời mở rộng sang những lĩnh vực mới. Các doanh nghiệp trong chuỗi lọc hóa dầu, phân bón và năng lượng cũng đang nghiên cứu đa dạng hóa sản phẩm, cải tiến công nghệ và chuyển đổi nhiên liệu; trong đó có phát triển, sử dụng nhiên liệu sinh học. Quá trình đó cho thấy chuyển dịch năng lượng cần lộ trình phù hợp, gắn với hiệu quả thực chất của từng dự án.

Tôi cho rằng, điều quan trọng nhất vẫn là chính sách rõ ràng, ổn định và có tính khả thi. Khi cơ chế được hoàn thiện, doanh nghiệp mới đủ cơ sở để huy động nguồn lực, đầu tư công nghệ, xây dựng đội ngũ và triển khai những dự án phục vụ mục tiêu tăng trưởng bền vững.

- Xin cảm ơn ông!

Thực hiện Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Kế hoạch hành động tại Quyết định số 3035/QĐ-BCT, Bộ Công Thương tổ chức Diễn đàn An ninh năng lượng quốc gia Việt Nam 2026 vào ngày 10/11/2026. Với chủ đề “Năng lượng tự chủ - Mạch máu của tăng trưởng hai con số”, diễn đàn tập trung thảo luận các giải pháp chiến lược nhằm nâng cao khả năng tự chủ, bảo đảm an ninh năng lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.

Thanh Bình

Có thể bạn quan tâm