Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân vừa ký ban hành Quyết định số 28/QĐ-BCT ngày 12/01/2026 phê duyệt Đề án “Nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh đến năm 2030”.

Thực thi pháp luật cạnh tranh là một trụ cột quan trọng trong kiến tạo môi trường kinh doanh công bằng, minh bạch và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Ảnh minh hoạ
Tạo lập, duy trì môi trường cạnh tranh công bằng, bình đẳng
Theo Bộ Công Thương, thực thi pháp luật cạnh tranh là một trụ cột quan trọng trong kiến tạo môi trường kinh doanh công bằng, minh bạch và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Việc nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh phải được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên và lâu dài của cả hệ thống chính trị, đảm bảo sự vận hành đúng đắn của cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Bảo đảm sự nhất quán, đồng bộ giữa pháp luật cạnh tranh với pháp luật chuyên ngành và các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và sự xuất hiện ngày càng nhiều thực tiễn cạnh tranh phức tạp, đa dạng.
Việc thực thi pháp luật cạnh tranh cần thích ứng linh hoạt với các mô hình kinh doanh mới, xu hướng số hóa và chuyển đổi xanh của nền kinh tế. Tiếp thu có chọn lọc các xu hướng thực thi pháp luật cạnh tranh trên thế giới, điều chỉnh để phù hợp với điều kiện trong nước.
Lấy doanh nghiệp và người tiêu dùng làm trung tâm trong quá trình thực thi pháp luật cạnh tranh, đảm bảo quyền được cạnh tranh công bằng của doanh nghiệp và quyền lựa chọn của người tiêu dùng. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, thiết lập khung pháp lý rõ ràng, minh bạch, đồng thời tăng cường giám sát và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Gắn thực thi pháp luật cạnh tranh với thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân và chuyển đổi số.
Đẩy mạnh phân công, phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan trong hệ thống thực thi pháp luật cạnh tranh, từ trung ương đến địa phương, tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình. Phát huy vai trò của tổ chức xã hội – nghề nghiệp, cộng đồng doanh nghiệp và xã hội trong giám sát và bảo đảm minh bạch thị trường. Khuyến khích sự tham gia của các tổ chức xã hội – nghề nghiệp, báo chí và người dân trong giám sát thực thi pháp luật cạnh tranh nhằm bảo đảm tính khách quan, công bằng và minh bạch.
Đề cao phương pháp tiếp cận thực thi pháp luật cạnh tranh dựa trên tính hiệu quả, phòng ngừa, chủ động, thay vì chỉ xử phạt thụ động. Phát triển nguồn nhân lực chuyên sâu và hiện đại hóa công cụ, phương pháp thực thi. Ưu tiên ứng dụng công nghệ thông tin, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo trong giám sát, phát hiện, điều tra và xử lý hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh. Đồng thời, từng bước xây dựng văn hóa cạnh tranh lành mạnh trong xã hội và cộng đồng doanh nghiệp; khuyến khích doanh nghiệp tuân thủ, tăng cường nhận thức cộng đồng, nâng cao tính phòng ngừa và tự giác chấp hành pháp luật về cạnh tranh.
Việc triển khai Đề án phải gắn với thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, Quốc hội, Chính phủ về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; bảo đảm công khai, minh bạch, phòng ngừa lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ trong hoạt động thực thi pháp luật và quản lý nhà nước về cạnh tranh.
Với quan điểm đó, mục tiêu của Đề án: Nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh nhằm tạo lập, duy trì và bảo đảm môi trường cạnh tranh công bằng, bình đẳng, minh bạch, lành mạnh; thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, tăng cường khả năng tiếp cận thị trường, nâng cao hiệu quả kinh tế, phúc lợi xã hội và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, phù hợp với chủ trương, đường lối, quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước trong tình hình mới.
Hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực thực thi pháp luật cạnh tranh
Nhằm thực hiện mục tiêu đặt ra, Đề án nêu rõ những nhiệm vụ, giải pháp:
Hoàn thiện thể chế, chính sách cạnh tranh: Rà soát, hoàn thiện khung pháp lý về cạnh tranh đảm bảo phù hợp với quan điểm chỉ đạo, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước. Tham gia xây dựng, đàm phán, thực hiện nội dung cam kết về cạnh tranh trong các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên
Nâng cao năng lực thực thi pháp luật cạnh tranh: Nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ của đội ngũ điều tra viên vụ việc cạnh tranh, công chức công tác trong lĩnh vực cạnh tranh. Tăng cường công tác phát hiện, ngăn ngừa, đấu tranh chống hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh hoặc gây cản trở cạnh tranh trên thị trường. Xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu về cạnh tranh, phát triển hạ tầng, thiết bị bảo đảm an ninh an toàn thông tin phục vụ công tác thực thi pháp luật cạnh tranh. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước trong công tác thực thi chính sách và pháp luật cạnh tranh.
Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cơ quan, doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề và người tiêu dùng về pháp luật cạnh tranh: Tăng cường truyền thông về quá trình, kết quả công tác thực thi chính sách, pháp luật cạnh tranh. Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cạnh tranh, tham gia đấu tranh, chống hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh.
Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia là đơn vị chủ trì thực hiện Đề án, có các trách nhiệm: Chủ trì xây dựng, tổ chức thực hiện và điều phối việc toàn bộ Đề án, đồng thời, chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có liên quan trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm, các nội dung chuyên sâu về hoàn thiện thể chế, chính sách cạnh tranh; nâng cao năng lực thực thi pháp luật cạnh tranh.
Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan thuộc Bộ Công Thương xây dựng kế hoạch ngân sách và huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để triển khai thực hiện các nhiệm vụ theo Quyết định này đảm bảo chất lượng, đúng tiến độ, theo quy định của pháp luật.
Phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan theo dõi tiến độ, kết quả thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao, định kỳ hằng năm tổng hợp, đánh giá kết quả thực hiện Đề án, báo cáo Lãnh đạo Bộ. Trường hợp cần thiết, báo cáo Bộ trưởng quyết định sửa đổi, bổ sung các nội dung liên quan trong Đề án nhằm phù hợp với tình hình thực tiễn. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng giao.
Các đơn vị thuộc Bộ căn cứ nhiệm vụ và yêu cầu công tác đề ra trong Quyết định này, chủ động đề xuất, lồng ghép các nhiệm vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình vào trong quá trình xây dựng và thực hiện kế hoạch công tác hằng năm của đơn vị mình để đảm bảo đồng bộ, hiệu quả nguồn lực.
Phối hợp chia sẻ thông tin, dữ liệu liên quan đến các thị trường hàng hóa, dịch vụ do đơn vị mình quản lý cho Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia để tổ chức nghiên cứu, khảo sát thị trường, đặc biệt là các thị trường hàng hóa, dịch vụ đặc thù hoặc có mô hình, phương thức kinh doanh mới để hiểu biết về thực trạng cạnh tranh trên thị trường, đánh giá các vấn đề quan ngại về cạnh tranh, đề xuất, kiến nghị điều chỉnh chính sách hoặc kịp thời cảnh báo, ngăn chặn, điều tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh.
Phối hợp với Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia xây dựng, đề xuất phương án đàm phán, ký kết, thực hiện nội dung cam kết về cạnh tranh trong các hiệp định thương mại tự do và các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam đang tham gia đàm phán, ký kết hoặc là thành viên. Phối hợp với Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia trong công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến các nhiệm vụ khoa học, công nghệ liên quan đến lĩnh vực cạnh tranh.
Thường xuyên theo dõi, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, phối hợp gửi báo cáo định kỳ hoặc đột xuất đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ được phân công tại Đề án cho Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia để tổng hợp, báo cáo Lãnh đạo Bộ...
Đề án có hiệu lực từ ngày ký.
Đề án đặt ra các chỉ tiêu phấn đấu đạt được trong giai đoạn 2026 – 2030, trong đó, tối thiểu 10.000 lượt người (cơ quan, doanh nghiệp, hiệp hội, người tiêu dùng) được tiếp cận tài liệu về cạnh tranh qua sự kiện trực tiếp hoặc qua phương thức điện tử; trên 70% doanh nghiệp lớn được khảo sát có hiểu biết cơ bản đúng về pháp luật cạnh tranh vào năm 2030…





