Khơi thông dòng vốn xanh từ tín dụng và thị trường carbon

Cùng với mở rộng tín dụng xanh, thị trường carbon được kỳ vọng tạo thêm nguồn lực tài chính, giảm áp lực vốn cho doanh nghiệp chuyển đổi xanh.

Dư nợ tín dụng xanh đạt trên 856.000 tỷ đồng

Tín dụng xanh đang mở rộng quy mô, góp phần đưa vốn vào các lĩnh vực phục vụ chuyển đổi xanh. Tuy nhiên, nhu cầu đầu tư lớn và dài hạn đòi hỏi phải phát triển thêm các kênh huy động vốn, trong đó có thị trường carbon.

Hội thảo “Chính sách tín dụng và thị trường carbon: Khơi thông dòng vốn xanh”.

Hội thảo “Chính sách tín dụng và thị trường carbon: Khơi thông dòng vốn xanh”.

Phát biểu tại Hội thảo “Chính sách tín dụng và thị trường carbon: Khơi thông dòng vốn xanh” do Báo Tài chính - Đầu tư tổ chức ngày 14/10, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Ngọc Cảnh cho biết, trong quá trình thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, nhu cầu vốn cho đổi mới công nghệ, chuyển đổi phương thức sản xuất, sử dụng năng lượng hiệu quả và giảm phát thải khí nhà kính ngày càng lớn. Trong bối cảnh các kênh huy động vốn xanh khác đang trong quá trình phát triển, tín dụng xanh tiếp tục giữ vai trò quan trọng đối với quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng carbon thấp.

Theo Phó Thống đốc, ngành Ngân hàng đã chủ động triển khai nhiều giải pháp thúc đẩy tín dụng xanh, hướng dòng vốn vào các ngành, lĩnh vực mang lại lợi ích về môi trường và giảm phát thải khí nhà kính. Cùng với đó, Ngân hàng Nhà nước từng bước hoàn thiện khuôn khổ chính sách, ban hành định hướng, hướng dẫn về tín dụng xanh và quản lý rủi ro môi trường, xã hội; đồng thời khuyến khích các tổ chức tín dụng xây dựng chiến lược, quy trình nội bộ và phát triển sản phẩm tín dụng phù hợp với mục tiêu tăng trưởng xanh.

Kết quả triển khai cho thấy, quy mô tín dụng xanh đã có bước mở rộng. Đến cuối tháng 6/2026, dư nợ tín dụng xanh đạt trên 856.000 tỷ đồng, tăng 9,87% so với cuối năm 2025. Giai đoạn 2017 - 2025, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt trên 20%/năm. Dư nợ tập trung chủ yếu vào nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và bảo tồn đa dạng sinh học, chiếm trên 31%; lĩnh vực năng lượng xanh chiếm gần 28%.

Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Ngọc Cảnh phát biểu tại hội thảo.

Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Ngọc Cảnh phát biểu tại hội thảo.

Bên cạnh đó, dư nợ được đánh giá rủi ro môi trường và xã hội đạt trên 6,2 triệu tỷ đồng, chiếm hơn 31,33% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Theo ông Nguyễn Ngọc Cảnh, những kết quả này cho thấy sự đồng hành của hệ thống ngân hàng trong quá trình chuyển đổi xanh của doanh nghiệp và nền kinh tế.

Thực tế tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank) cũng cho thấy, tín dụng xanh đang được triển khai gắn với các lĩnh vực sản xuất và nhóm khách hàng có nhu cầu chuyển đổi. Đến cuối tháng 3/2026, dư nợ tín dụng xanh của ngân hàng đạt gần 30.000 tỷ đồng. Trong năm 2026, Agribank tiếp tục triển khai chương trình tín dụng xanh 3.000 tỷ đồng dành cho khách hàng cá nhân và chương trình tài trợ nông nghiệp sạch, công nghệ cao quy mô 50.000 tỷ đồng.

Một trong những chương trình đáng chú ý là cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ thuộc Đề án phát triển bền vững 1 triệu hecta lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long, với quy mô tối thiểu 30.000 tỷ đồng. TS. Nguyễn Thị Thu Hà, Giám đốc Trường Đào tạo cán bộ kiêm Phó trưởng Ban Chỉ đạo ESG Agribank cho rằng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn vừa chịu tác động rõ nét của biến đổi khí hậu, vừa có dư địa giảm phát thải trong các lĩnh vực như trồng lúa, chăn nuôi, lâm nghiệp, năng lượng sinh khối và xử lý chất thải. Vì vậy, vấn đề đặt ra không chỉ là cấp vốn cho hoạt động sản xuất, mà còn là cách thức tài trợ cho quá trình tạo ra kết quả giảm phát thải có thể đo lường và xác minh.

TS. Nguyễn Thị Thu Hà, Giám đốc Trường Đào tạo cán bộ kiêm Phó trưởng Ban Chỉ đạo ESG Agribank phát biểu.

TS. Nguyễn Thị Thu Hà, Giám đốc Trường Đào tạo cán bộ kiêm Phó trưởng Ban Chỉ đạo ESG Agribank phát biểu.

Tín dụng là kênh dẫn vốn quan trọng, tuy nhiên, ông Bùi Minh Giáp, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam cho rằng, tín dụng ngân hàng không thể một mình đáp ứng toàn bộ nhu cầu vốn cho chuyển đổi xanh. Uớc tính, Việt Nam cần khoảng 368 tỷ USD đầu tư bổ sung cho thích ứng biến đổi khí hậu, nâng cao khả năng chống chịu và giảm phát thải đến năm 2040, tương đương 6,8% GDP mỗi năm. Trong đó, nhu cầu cho thích ứng và nâng cao khả năng chống chịu khoảng 254 tỷ USD, còn giảm phát thải cần khoảng 114 tỷ USD. Riêng ngành điện cần khoảng 136 tỷ USD đầu tư phát triển nguồn và lưới điện giai đoạn 2026 - 2030.

Ông Bùi Minh Giáp khẳng định: “Ngân hàng là kênh dẫn vốn quan trọng, nhưng không thể tự nó đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn cho tài trợ xanh, tài trợ chuyển đổi”. Do đó, cần kết hợp tín dụng với trái phiếu xanh, trái phiếu tài trợ chuyển đổi, vốn cổ phần, tài chính hỗn hợp, bảo lãnh và các cơ chế chia sẻ rủi ro. Mỗi loại rủi ro cần được phân bổ cho những bên có khả năng quản lý phù hợp.

Ông Bùi Minh Giáp, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam phát biểu tại hội thảo.

Ông Bùi Minh Giáp, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam phát biểu tại hội thảo.

Thị trường carbon cần tạo giá trị kinh tế thực chất

Cùng với tín dụng xanh, thị trường carbon được kỳ vọng mở thêm nguồn lực cho doanh nghiệp thông qua việc chuyển kết quả giảm phát thải thành giá trị kinh tế. Theo Phó Thống đốc Nguyễn Ngọc Cảnh, thông qua xác lập hạn ngạch, đo lường kết quả giảm phát thải và hình thành giá giao dịch đối với hạn ngạch, tín chỉ carbon, thị trường tạo ra động lực để doanh nghiệp chủ động đầu tư cho chuyển đổi xanh.

Phó Thống đốc cho rằng, khi thị trường carbon vận hành hiệu quả, kết quả giảm phát thải có thể trở thành nguồn lực tài chính cho chính doanh nghiệp. Khi đó, doanh nghiệp có thêm khả năng tạo nguồn lực từ kết quả giảm phát thải của mình, góp phần giảm áp lực lên vốn tự có, ngân sách và tín dụng ngân hàng. Về dài hạn, cơ chế này giúp đa dạng hóa nguồn tài chính cho chuyển đổi xanh, đồng thời tạo điều kiện để tín dụng được phân bổ hiệu quả hơn.

Ông Phạm Văn Hoành, Tổng Biên tập Báo Tài chính - Đầu tư cho biết, khuôn khổ pháp lý của thị trường carbon được hình thành từ Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và tiếp tục được cụ thể hóa bằng các quy định liên quan. Nghị định số 29/2026/NĐ-CP quy định về sàn giao dịch carbon trong nước; Nghị định số 112/2026/NĐ-CP quy định việc trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon.

Ông Phạm Văn Hoành, Tổng Biên tập Báo Tài chính - Đầu tư.

Ông Phạm Văn Hoành, Tổng Biên tập Báo Tài chính - Đầu tư.

Theo đó, hệ thống giao dịch hạn ngạch phát thải được triển khai từ ngày 29/6/2026. Giai đoạn thí điểm kéo dài đến hết năm 2028, trước khi chuyển sang vận hành bắt buộc toàn diện từ năm 2029. Quy mô hạn ngạch được phân bổ cho các cơ sở thuộc ba ngành phát thải lớn là nhiệt điện, sắt thép và xi măng trong giai đoạn 2025 - 2026 đạt hơn 511 triệu tấn CO₂ tương đương. Trong giai đoạn thí điểm, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) là ngân hàng thanh toán duy nhất trên thị trường.

Tuy nhiên, sự hình thành hạ tầng giao dịch mới chỉ là bước khởi đầu. “Nếu sàn giao dịch carbon là hạ tầng của thị trường thì chính sách tín dụng, hệ thống ngân hàng và thị trường vốn chính là động lực cho quá trình chuyển đổi xanh”, ông Phạm Văn Hoành nhấn mạnh.

Ở góc độ ngân hàng, TS. Nguyễn Thị Thu Hà cho rằng, câu hỏi trọng tâm không chỉ là ngân hàng có tham gia mua bán tín chỉ carbon hay không, mà là ngân hàng có thể tài trợ cho quá trình tạo ra kết quả giảm phát thải như thế nào và khi nào giá trị carbon đủ chắc chắn để được tính đến trong quyết định tín dụng. Đối với các dự án dự kiến có doanh thu từ tín chỉ carbon, quá trình hình thành nguồn thu thường đi sau nhu cầu đầu tư ban đầu. Doanh nghiệp cần vốn để chuẩn bị dự án, triển khai công nghệ, tổ chức sản xuất và đo lường kết quả giảm phát thải; sau đó mới đến các bước xác minh, phát hành tín chỉ, giao dịch và thanh toán. Khoảng cách về thời gian này khiến việc đánh giá dòng tiền và khả năng trả nợ cần được thực hiện thận trọng.

Ông Phạm Văn Hoành, Tổng Biên tập Báo Tài chính - Đầu tư: Một thị trường muốn phát triển bền vững không chỉ cần sàn giao dịch, hàng hóa và quy định giao dịch, mà còn cần thanh khoản, dữ liệu, cơ chế xác minh, niềm tin của người mua và người bán, cùng hệ sinh thái tài chính đủ mạnh để hỗ trợ các chủ thể tham gia. Việc giao dịch hạn ngạch phát thải được triển khai cần đi cùng khả năng nhận diện, định giá và quản trị dòng vốn xanh, giúp các dự án chuyển đổi xanh có thể tiếp cận nguồn vốn phù hợp.

Hoàng Lan

Có thể bạn quan tâm