Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm với bia, rượu và nước giải khát

Theo bà Nguyễn Hương Giang, Phòng Công nghiệp tiêu dùng thực phẩm, Cục Công nghiệp, ngành bia, rượu và nước giải khát hoạt động trong khung pháp lý chặt chẽ.

Khung pháp lý chặt chẽ

Tại tọa đàm “An toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh bia, rượu và nước giải khát: Trách nhiệm doanh nghiệp - niềm tin người tiêu dùng” do Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương) phối hợp với Báo Công Thương tổ chức ngày 4/11, bà Nguyễn Hương Giang, Phòng Công nghiệp tiêu dùng thực phẩm, Cục Công nghiệp cho biết, bia, rượu và nước giải khát là ngành công nghiệp chế biến quan trọng, đóng góp ngân sách, tạo việc làm cho hàng trăm nghìn lao động.

Bà Nguyễn Hương Giang, Phòng Công nghiệp tiêu dùng thực phẩm, Cục Công nghiệp.

Bà Nguyễn Hương Giang, Phòng Công nghiệp tiêu dùng thực phẩm, Cục Công nghiệp.

Theo bà Giang, ngành hoạt động trong khung pháp lý chặt chẽ gồm Luật An toàn thực phẩm (đang được sửa đổi), Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia (Luật số 44/2019/QH14), Nghị định số 105/2017/NĐ-CP về kinh doanh rượu (đang được dự thảo thay thế theo hướng doanh nghiệp thông báo, cơ quan nhà nước hậu kiểm) và Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt (lộ trình tăng thuế bia, rượu từ 2027).

Bộ Công Thương đang sửa đổi Nghị định số 77/2016/NĐ-CP và Nghị định số 17/2020/NĐ-CP theo hướng cắt giảm thủ tục hành chính, phù hợp phân cấp và thực tiễn; Cục Công nghiệp chủ trì, hồ sơ đang trình Bộ Tư pháp lần 2. Bộ cũng ban hành Thông tư số 63/2026/TT-BCT (cơ sở dữ liệu thực phẩm) và Thông tư số 39/2026/TT-BCT (quy chuẩn đồ uống có cồn).

Về điểm chuyển chính sách, Nghị quyết số 66.17/2026/NQ-CP giảm số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện (toàn bộ các lĩnh vực) từ 198 xuống 142; Luật số 24/2026/QH16 (từ 1/3/2027) đưa kinh doanh rượu ra khỏi danh mục này.

Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP (18/5/2026) không thực hiện thủ tục cấp giấy phép (kể cả sửa đổi, bổ sung, cấp lại) sản xuất rượu công nghiệp, sản xuất rượu thủ công nhằm mục đích kinh doanh, phân phối, bán buôn và bán lẻ rượu; đối với an toàn thực phẩm cũng giảm bớt thủ tục hành chính; hiệu lực đến hết 28/2/2027.

Để đồng bộ, Bộ Công Thương đề xuất bãi bỏ các quy định về điều kiện kinh doanh, kê khai tương ứng trong Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia, nhưng giữ cấm bán rượu, bia bằng máy bán hàng tự động và yêu cầu chất lượng, an toàn thực phẩm kể cả khi bán trực tuyến.

Bốn vấn đề cần tập trung

Cũng tại tọa đàm, bà Giang nêu bốn vấn đề. Thứ nhất, khi điều kiện tiền kiểm được nới, cơ sở nhỏ lẻ ngoài tầm theo dõi, nguyên liệu không rõ nguồn gốc, rượu nhập lậu, nhái nhãn hiệu có thể gia tăng nếu hậu kiểm không theo kịp; đây có thể là nguy cơ cao.

Thứ hai, hậu kiểm cần năng lực lấy mẫu, thử nghiệm, nhân lực ở cấp tỉnh, cấp xã.

Thứ ba, từ 1/3/2027 rượu không còn là ngành có điều kiện nên cơ chế của Luật Thương mại điện tử không còn tự động áp dụng, trong khi Điều 16 Luật số 44/2019/QH14 vẫn bắt buộc; cần hướng dẫn thống nhất để các sàn kiểm soát người bán.

Thứ tư, dữ liệu về cơ sở, sản phẩm, thuế, hải quan, y tế… còn phân tán; nước giải khát cần quy chuẩn cập nhật và hướng dẫn dung sai ghi nhãn đường.

Đồng thời, bà Giang đưa ra năm nhóm giải pháp: Một là, hoàn thiện thể chế đồng bộ: Hoàn thiện Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi); Nghị định sửa đổi Nghị định số 77/2016 và 17/2020, nghị định thay thế Nghị định 105, sửa Luật PCTHRB số 44/2019, hướng dẫn QCVN 30:2026.

Hai là, hậu kiểm dựa trên rủi ro, hỗ trợ cơ sở rượu thủ công nâng cấp, nhân rộng mô hình thí điểm ở Ninh Bình.

Ba là, truy xuất và dữ liệu: triển khai Thông tư 63/2026, liên thông dữ liệu với thuế, hải quan, quản lý thị trường, y tế, từng bước áp dụng mã QR.

Bốn là, quản lý tốt nguồn nguyên liệu và chuỗi bán hàng, thông tin tối thiểu của người bán rượu trực tiếp và trực tuyến, kiểm tra, lấy mẫu hàng bán qua mạng.

Năm là, truyền thông, hỗ trợ tuân thủ, xử lý nghiêm gian lận, đánh giá tác động tích lũy của các chính sách.

Bà Nguyễn Hương Giang kiến nghị, ở Trung ương, Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) quy định rõ trách nhiệm quản lý chuyên ngành, cơ chế phối hợp, chia sẻ dữ liệu, hiệu lực và chuyển tiếp đủ dài; các bộ thống nhất kế hoạch kiểm tra, lấy mẫu liên ngành. Luật Phòng chống tác hại rượu bia cần sửa đổi để phù hợp Nghị quyết số 66.18.

Bên cạnh đó, ở địa phương, bảo đảm nhân lực, kinh phí, năng lực thử nghiệm; kiểm tra theo nguy cơ: nhóm nào có nguy cơ cao hơn sẽ hậu kiểm mạnh, tránh trùng lặp; đối với doanh nghiệp đề cao tự công bố, kiểm soát nguyên liệu, truy xuất, thu hồi sản phẩm không bảo đảm; sàn thương mại điện tử xác minh người bán, gỡ sản phẩm vi phạm.

Các Hiệp hội đồng hành cùng doanh nghiệp và làm cầu nối với cơ quan nhà nước trong việc xây dựng chính sách, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ tuân thủ chính sách của Nhà nước. “Mục tiêu chung hướng tới là xây dựng một hệ thống quản lý vừa thông thoáng, vừa nghiêm minh: giảm chi phí tuân thủ không cần thiết nhưng không giảm chuẩn an toàn; tăng tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp nhưng không buông lỏng hậu kiểm” - bà Nguyễn Hương Giang nhấn mạnh.

Về điểm sáng, bà Nguyễn Hương Giang cho rằng, các doanh nghiệp công nghiệp tuân thủ tương đối tốt. Tỷ lệ cơ sở đạt điều kiện sản xuất cao: 86,49% cơ sở sản xuất rượu công nghiệp, 85,71% cơ sở sản xuất bia (theo số liệu các tỉnh) và 90,45% tính chung các doanh được kiểm tra đạt điều kiện sản xuất; vi phạm nồng độ cồn khi tham gia giao thông giảm 31,03% so với năm 2024. Trên 99% địa điểm chấp hành đúng quy định không uống, không bán rượu, bia.

Quỳnh Nga

Có thể bạn quan tâm