Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 3/4/2026 về việc đẩy mạnh huy động người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm và phát triển các kênh phân phối hàng Việt Nam ở nước ngoài giai đoạn 2026 - 2030.
Một trong những mục tiêu được Chỉ thị đề ra đó là: Huy động người Việt Nam ở nước ngoài phát huy vai trò chiến lược, là lực lượng tại chỗ trong hoạt động giới thiệu, tiêu thụ và phân phối sản phẩm Việt Nam, giữ vững các thị trường truyền thống, đưa hàng hóa Việt Nam vào các hệ thống phân phối, siêu thị, trung tâm thương mại lớn, có uy tín, tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng, nhất là tại các thị trường ta đang có lợi thế, có cộng đồng người Việt đông đảo; ưu tiên hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ; tận dụng hiệu quả các Hiệp định thương mại tự do (FTA).
Phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Cảnh Cường - chuyên gia kinh tế, thương mại quốc tế, nguyên Tham tán Thương mại Việt Nam tại Pháp, EU và Vương quốc Anh về ý nghĩa cũng như các giải pháp phát triển các kênh phân phối hàng Việt Nam ở nước ngoài giai đoạn 2026 - 2030.

Việc tăng cường huy động người Việt ở nước ngoài tham gia giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm, phát triển các kênh phân phối hàng Việt Nam ở nước ngoài tiếp tục có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Ảnh minh họa
Quyết sách kịp thời
- Trong giai đoạn hội nhập sâu rộng hiện nay, theo ông, việc ban hành Chỉ thị số 11/CT-TTg có ý nghĩa như thế nào đối với mở rộng thị trường và nâng cao vị thế hàng Việt?
Ông Nguyễn Cảnh Cường: Chỉ thị số 11 về việc đẩy mạnh huy động người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm và phát triển các kênh phân phối hàng Việt Nam ở nước ngoài giai đoạn 2026 - 2030, theo tôi là một quyết sách kịp thời, thể hiện bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển thị trường.
Đặc biệt, điểm mới nổi bật đáng ý là việc nhấn mạnh vai trò của cộng đồng hơn 5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài như một nguồn lực chiến lược. Trong đó, thay vì chỉ tập trung vào xuất khẩu đơn thuần, Chỉ thị hướng tới xây dựng hệ sinh thái phân phối hàng Việt tại nước ngoài. Đây là cách tiếp cận dài hạn, giúp hàng Việt không chỉ thâm nhập mà còn trụ vững, phát triển bền vững và từng bước nâng cao vị thế trên thị trường quốc tế.
- Chỉ thị số 11 đặt mục tiêu đến năm 2030 hình thành mạng lưới phân phối hàng Việt tại tất cả các quốc gia, vùng lãnh thổ có cộng đồng người Việt. Quan điểm của ông như thế nào về mục tiêu này?
Ông Nguyễn Cảnh Cường: Mục tiêu này có ý nghĩa nền tảng trong việc xây dựng hệ sinh thái tiêu thụ bền vững cho hàng Việt. Khi hình thành được mạng lưới phân phối, hàng Việt sẽ có sự hiện diện ổn định, giảm phụ thuộc vào các đơn hàng ngắn hạn.
Quan trọng hơn, theo tôi, mạng lưới này không chỉ phục vụ cộng đồng người Việt mà còn là “cầu nối” để tiếp cận người tiêu dùng bản địa. Kiều bào khi đó không chỉ là người tiêu dùng, mà trở thành nhà phân phối, nhà đầu tư và là lực lượng xúc tiến thương mại, lan tỏa thương hiệu hàng Việt một cách tự nhiên, hiệu quả.

Ông Nguyễn Cảnh Cường - chuyên gia kinh tế, thương mại quốc tế, nguyên Tham tán Thương mại Việt Nam tại Pháp, EU và Vương quốc Anh. Ảnh: Quốc Chuyển
- Trong vai trò là cơ quan chủ trì, Bộ Công Thương cùng hệ thống thương vụ Việt Nam ở nước ngoài cần đóng vai trò như thế nào trong việc kết nối doanh nghiệp, phát triển kênh phân phối và hỗ trợ hàng Việt thâm nhập sâu hơn vào thị trường quốc tế, thưa ông?
Ông Nguyễn Cảnh Cường: Bộ Công Thương và hệ thống thương vụ cần đóng vai trò trung tâm điều phối, nhưng theo hướng thực chất và bám sát thị trường hơn. Trước hết là kết nối đúng và trúng, đưa doanh nghiệp vào trực tiếp các hệ thống phân phối, đối tác tiềm năng, đặc biệt là mạng lưới doanh nghiệp kiều bào.
Ngoài ra, cung cấp thông tin thị trường có chiều sâu, bao gồm tiêu chuẩn kỹ thuật, quy định pháp lý, xu hướng tiêu dùng và phân khúc thị trường cụ thể; đồng hành triển khai, không chỉ dừng ở xúc tiến mà hỗ trợ doanh nghiệp trong suốt quá trình thâm nhập thị trường, từ thử nghiệm sản phẩm, hoàn thiện tiêu chuẩn đến đưa hàng vào hệ thống phân phối.
Đặc biệt, hệ thống cơ quan thương vụ cần thực sự trở thành “đầu mối tại chỗ”, giúp doanh nghiệp giảm rủi ro và rút ngắn thời gian tiếp cận thị trường.
Tạo động lực để kiều bào trở thành đối tác chiến lược
- Từ thực tiễn tham gia xúc tiến thị trường, kết nối đưa hàng Việt đến châu Âu, theo ông, đâu là những giải pháp trọng tâm cần triển khai để hiện thực hóa các mục tiêu của Chỉ thị? Đồng thời, doanh nghiệp Việt Nam cần chuẩn bị gì để tận dụng hiệu quả cơ hội mở rộng thị trường thông qua mạng lưới kiều bào?
Ông Nguyễn Cảnh Cường: Từ thực tiễn tham gia hỗ trợ phát triển thị trường tại châu Âu, có thể xác định một số hướng đi trọng tâm: Đó là, phát triển kênh phân phối tại chỗ, thông qua hợp tác với hệ thống bán lẻ, doanh nghiệp kiều bào hoặc xây dựng điểm giới thiệu sản phẩm.
Tiếp đó là nâng cao chất lượng, tiêu chuẩn và khả năng truy xuất nguồn gốc, yếu tố bắt buộc tại các thị trường phát triển. Đồng thời, doanh nghiệp cần đầu tư xây dựng thương hiệu, phù hợp với thị hiếu và văn hóa tiêu dùng từng thị trường. Về phía doanh nghiệp, cần chuyển mạnh sang tư duy thị trường, chủ động nghiên cứu nhu cầu, sẵn sàng hợp tác dài hạn và đầu tư bài bản cho xuất khẩu.
Trong giai đoạn cạnh tranh hiện nay, để Chỉ thị số 11 đi vào cuộc sống, điều quan trọng là đổi mới cách làm, trong đó hiệu quả thị trường phải là thước đo cao nhất.
Từ thực tiễn hoạt động tại một số thương vụ, tôi cho rằng, có thể tập trung vào một số định hướng, giải pháp sau:
Thứ nhất, hỗ trợ theo thị trường trọng điểm và ngành hàng cụ thể. Theo đó, cần lựa chọn rõ các thị trường và nhóm ngành có lợi thế, từ đó xây dựng bộ tiêu chí tiếp cận cụ thể và cung cấp danh sách đối tác, hệ thống phân phối phù hợp. Cách làm này giúp doanh nghiệp đi thẳng vào thị trường mục tiêu, giảm chi phí và rủi ro.
Thứ hai, giúp doanh nghiệp xây dựng “điểm bám thị trường” tại nước ngoài. Thông qua việc kết nối với doanh nghiệp kiều bào, hỗ trợ thiết lập kho hàng, showroom hoặc điểm giới thiệu sản phẩm, đồng thời khuyến khích sử dụng chung hạ tầng logistics và phân phối để tiết kiệm chi phí.
Thứ ba, thúc đẩy cơ chế chia sẻ chi phí và rủi ro với doanh nghiệp kiều bào. Khuyến khích mô hình hợp tác cùng đầu tư, cùng khai thác thị trường, trong đó chi phí ban đầu và lợi ích được phân chia trên cơ sở kết quả thực tế. Đây là cách tạo động lực để kiều bào trở thành đối tác chiến lược lâu dài.
Thứ tư, tăng cường vai trò của thương vụ trong công tác đồng hành triển khai. Đó là, không chỉ cung cấp thông tin, thương vụ cần tham gia sâu vào quá trình kết nối, thẩm định đối tác, hỗ trợ đàm phán và theo dõi việc đưa hàng vào hệ thống phân phối.
Thứ năm, ưu tiên các mô hình có khả năng nhân rộng. Tập trung nguồn lực cho các mô hình hiệu quả như chuỗi cửa hàng hàng Việt, trung tâm phân phối tại nước ngoài hoặc hợp tác với hệ thống bán lẻ bản địa, sau đó nhanh chóng nhân rộng.
- Xin cảm ơn ông!
Theo ông Nguyễn Cảnh Cường, để đạt mục tiêu đến năm 2030, yếu tố quyết định không chỉ là chính sách đúng, mà là cách triển khai phải thực chất, bám sát thị trường và tạo ra kết quả cụ thể. Khi doanh nghiệp có “điểm bám”, có đối tác và doanh thu thực tế, hệ sinh thái phân phối hàng Việt Nam ở nước ngoài mới có thể phát triển bền vững.




