Hai lực kéo mạnh cho tăng trưởng hai con số dài hạn

Tăng trưởng hai con số dài hạn là mục tiêu lớn của nền kinh tế, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa xuất khẩu và thương mại trong nước.

Nhiều kết quả tích cực

Tám tháng năm 2026, cả xuất khẩu và thị trường trong nước tiếp tục duy trì đà tăng tích cực, tạo nền tảng cho tăng trưởng những tháng cuối năm và mở rộng dư địa phát triển dài hạn.

Theo báo cáo của Vụ Kế hoạch, Tài chính và Quản lý doanh nghiệp, Bộ Công Thương, 8 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ước đạt 374 tỷ USD, tăng 22,2% so với cùng kỳ năm 2025. Riêng tháng 8, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 54,23 tỷ USD, tăng 2,1% so với tháng 7 và tăng 24,7% so với cùng kỳ năm trước.

Đáng chú ý, dư địa gia tăng kim ngạch vẫn còn khi nhiều ngành hàng chủ lực bước vào mùa cao điểm đơn hàng. Với ngành điện tử, bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam cho biết, tháng 9 và 10 thường là thời điểm cao điểm, doanh nghiệp sẽ tập trung sản xuất, qua đó xuất khẩu được kỳ vọng tăng mạnh hơn. Sáu tháng đầu năm, tùy từng mặt hàng, tốc độ tăng trưởng của ngành đã đạt khoảng 12-14%.

Trong khi đó, những ngành hàng xuất khẩu chủ lực như dệt may, da giày, gỗ dù tăng trưởng kim ngạch chưa cao nhưng vẫn đóng góp đáng kể vào cán cân thương mại nhờ khả năng tạo giá trị gia tăng và xuất siêu.

8 tháng, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ước đạt 374 tỷ USD.

8 tháng, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ước đạt 374 tỷ USD.

Ngành dệt may là một ví dụ. Theo ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam, 6 tháng đầu năm, xuất khẩu dệt may tăng 1,7%, song ngành đã xuất siêu 9,2 tỷ USD. Thay vì chạy theo sản lượng, doanh nghiệp đang tập trung nâng chất lượng, tăng đầu tư, tự chủ nguyên liệu và cải thiện hiệu quả sản xuất.

Có thể thấy, trong những tháng cuối năm, khả năng tận dụng mùa cao điểm đơn hàng sẽ tác động trực tiếp và tích cực hơn đến kết quả xuất khẩu.

Về thị trường trong nước, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 8 tháng năm 2026 ước đạt 5.227 nghìn tỷ đồng, tăng 13,3% so với cùng kỳ. Chỉ tiêu này đã lần thứ hai liên tiếp nằm trong dải mục tiêu tăng trưởng cả năm 13-15%, sau khi lần đầu vượt kế hoạch vào tháng 7.

Động lực tăng trưởng cũng đang dịch chuyển rõ hơn sang khu vực dịch vụ. Trong khi bán lẻ hàng hóa tăng 12,6%, du lịch và lưu trú, ăn uống lần lượt tăng 17,4% và 17,1%. Điều này cho thấy dư địa của thị trường nội địa không chỉ nằm ở mở rộng bán lẻ mà ngày càng phụ thuộc vào khả năng phát triển các ngành dịch vụ.

Thương mại điện tử tiếp tục là một điểm sáng khi tỷ lệ doanh nghiệp ứng dụng đạt 68%, vượt mục tiêu 60-62%. Đây là nền tảng để doanh nghiệp mở rộng kênh bán hàng, tiếp cận người tiêu dùng và nâng hiệu quả phân phối.

Như vậy, trong ngắn hạn, xuất khẩu tiếp tục là lực kéo quan trọng trong những tháng cuối năm, trong khi tiêu dùng và dịch vụ trong nước tạo thêm trụ đỡ cho tăng trưởng. Song để hai động lực này duy trì sức mạnh trong dài hạn, các điểm nghẽn về năng lực sản xuất, thị trường, vốn, logistics và hạ tầng thương mại cần được tháo gỡ đồng bộ.

Nâng chất lượng hai động lực tăng trưởng

Đối với xuất khẩu, thách thức lớn là duy trì thị trường trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động, cạnh tranh gia tăng và các yêu cầu về thuế quan, xuất xứ, lao động, môi trường ngày càng chặt chẽ.

Với dệt may, thị trường Hoa Kỳ có vai trò đặc biệt quan trọng. Việt Nam có lợi thế là đối tác nhập khẩu bông lớn của Hoa Kỳ, vì vậy, việc đàm phán, hoàn thiện các quy định liên quan và chứng minh thực tế của Việt Nam là những yếu tố quan trọng để duy trì thị trường.

Ngành gỗ cũng cần chủ động đa dạng hóa thị trường, nâng giá trị sản phẩm và xây dựng chuỗi cung ứng nguyên liệu ổn định. Trong khi đó, với ngành điện tử, cơ hội từ làn sóng tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu chỉ có thể chuyển hóa thành tăng trưởng bền vững nếu doanh nghiệp trong nước nâng được năng lực tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn FDI.

Muốn vậy, cần tiếp tục tháo gỡ các vướng mắc về thủ tục đầu tư, đất đai, hoàn thuế, chứng nhận xuất xứ, kiểm tra chuyên ngành và tiếp cận vốn. “Với những ngành có chu kỳ đơn hàng ngắn như điện tử, sự chậm trễ trong thủ tục có thể khiến cơ hội đầu tư và đơn hàng chuyển sang quốc gia khác”, bà Hương cho hay.

Nguồn vốn trung và dài hạn cũng cần được khơi thông, nhiều doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo có đơn hàng nhưng thiếu vốn để đầu tư máy móc, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo và nhà máy thông minh. Nếu tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào vốn ngắn hạn, doanh nghiệp sẽ khó nâng cấp công nghệ và chuyển lên các phân khúc có giá trị gia tăng cao hơn.

Cùng với vốn là bài toán logistics. Chi phí lưu thông cao làm giảm sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu, đồng thời làm tăng giá hàng hóa trong nước. Phát triển hệ thống logistics đồng bộ vì thế không chỉ phục vụ xuất khẩu mà còn là điều kiện nâng hiệu quả thương mại nội địa.

Thị trường trong nước là lực đẩy quan trọng cho tăng trưởng kinh tế.

Thị trường trong nước là lực đẩy quan trọng cho tăng trưởng kinh tế.

Ở thị trường trong nước, dư địa tăng trưởng cũng cần được khai thác theo hướng mới. Bà Trần Thị Phương Lan, Chủ tịch Hiệp hội Các nhà bán lẻ Việt Nam, cho rằng khi tỷ trọng bán lẻ đã ở mức cao, động lực tăng trưởng cần chuyển dần sang dịch vụ.

Để đạt tăng trưởng hai con số, dư địa của bán lẻ đã gần như chạm ngưỡng, do đó cần tập trung phát triển mảng dịch vụ”, bà Lan nhận định.

Theo đó, bên cạnh các giải pháp kích cầu, cần phát triển mạnh dịch vụ tài chính, ngân hàng, du lịch, ăn uống, logistics và các dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Hệ thống phân phối cũng cần được mở rộng, nhất là các điểm bán mới, qua đó hình thành thêm những cực tăng trưởng và đưa hàng hóa sản xuất trong nước đến gần người tiêu dùng.

Hạ tầng thương mại cần được đầu tư đồng bộ, từ siêu thị, trung tâm thương mại, thương mại điện tử đến chợ truyền thống và chợ đầu mối. Đặc biệt, các chợ đầu mối quy mô lớn có thể trở thành mắt xích kết nối sản xuất nông nghiệp, hàng hóa trong nước với hệ thống phân phối và thị trường xuất khẩu.

Cùng với đó, cần xây dựng cơ sở dữ liệu về cung - cầu hàng hóa, kết nối nhà sản xuất, phân phối và người tiêu dùng. Dữ liệu đầy đủ sẽ giúp dự báo sức mua, điều tiết sản xuất, giảm tồn kho và nâng hiệu quả quản lý thị trường.

Về dài hạn, xuất khẩu và thương mại nội địa không nên được xem là hai khu vực tăng trưởng tách biệt. Xuất khẩu cần nguồn nguyên liệu, doanh nghiệp hỗ trợ, logistics và thị trường trong nước; ngược lại, thương mại nội địa cần năng lực sản xuất đủ mạnh, hàng hóa chất lượng và giá cạnh tranh. Do đó, chính sách tăng trưởng cần đồng thời củng cố cả hai động lực. Quan trọng hơn, tăng trưởng hai con số chỉ bền vững khi đi cùng tăng năng suất, giá trị gia tăng và thu nhập.

Xuất khẩu và thị trường trong nước là hai lực đẩy mạnh cho mục tiêu tăng trưởng hai con số, việc lồng ghép chính sách cũng như các giải pháp hỗ trợ có tính tương hỗ sẽ giúp hai động lực này phát huy hơn nữa thế mạnh.

Hải Linh

Có thể bạn quan tâm