Xuất khẩu gạo nửa đầu năm 2026: Giữ nhịp tăng trưởng

Nửa đầu năm 2026, xuất khẩu gạo tiếp tục tăng về sản lượng. Ngành hàng lúa gạo đang hướng đến phát triển giảm phát thải và nâng giá trị để giữ lợi thế cạnh tranh.

Sản lượng xuất khẩu tăng

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tháng 6/2026, Việt Nam ước xuất khẩu khoảng 910.000 tấn gạo, đạt kim ngạch 373,1 triệu USD. Lũy kế 6 tháng đầu năm, xuất khẩu gạo đạt khoảng 5,2 triệu tấn, trị giá 2,38 tỷ USD, tăng 9,9% về khối lượng nhưng giảm 2,5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Nguyên nhân chủ yếu là giá gạo xuất khẩu bình quân chỉ đạt khoảng 459,6 USD/tấn, giảm 11,3% so với cùng kỳ năm trước.

6 tháng đầu năm, xuất khẩu gạo đạt khoảng 5,2 triệu tấn, trị giá 2,38 tỷ USD, tăng 9,9% về khối lượng. Ảnh: Nguyễn Hạnh

6 tháng đầu năm, xuất khẩu gạo đạt khoảng 5,2 triệu tấn, trị giá 2,38 tỷ USD, tăng 9,9% về khối lượng. Ảnh: Nguyễn Hạnh

Philippines tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất của gạo Việt Nam, chiếm khoảng 45% tổng kim ngạch xuất khẩu. Trung Quốc đứng thứ hai với 19,4%, tiếp đến là Ghana với 8,5%. Đáng chú ý, giá trị xuất khẩu gạo sang Trung Quốc trong 5 tháng đầu năm tăng tới 87%, trong khi xuất khẩu sang Philippines giảm 3,8% và Ghana giảm 24,7%. Trong nhóm 15 thị trường lớn nhất, Iraq ghi nhận mức tăng trưởng cao nhất, gấp 132,4 lần cùng kỳ, trong khi Campuchia giảm mạnh nhất với 68,1%. Diễn biến này cho thấy doanh nghiệp đang từng bước đa dạng hóa thị trường, song vẫn phụ thuộc đáng kể vào một số thị trường truyền thống.

Theo Reuters, trong tháng 6, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam tăng nhẹ do thị trường lo ngại hiện tượng El Nino có thể ảnh hưởng đến nguồn cung vụ mới tại châu Á. Hiện gạo 5% tấm của Việt Nam được chào bán ở mức 410-415 USD/tấn, tăng khoảng 5 USD/tấn so với cuối tháng 5. Trong khi đó, giá gạo Thái Lan tăng mạnh lên 480-500 USD/tấn, cao hơn khoảng 30 USD/tấn so với tháng trước. Mức giá cao khiến nhiều khách hàng, đặc biệt tại châu Phi, chuyển sang nhập khẩu gạo Ấn Độ có giá chỉ khoảng 340-346 USD/tấn.

Theo đánh giá của các nhà giao dịch quốc tế, toàn bộ thị trường gạo thế giới đang theo dõi sát diễn biến sản xuất vụ mới tại châu Á trong bối cảnh El Nino được dự báo có thể xuất hiện mạnh vào tháng 7 và tháng 8, ảnh hưởng tới nguồn cung toàn cầu.

Ở trong nước, thị trường lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long diễn biến trái chiều giữa các chủng loại. Tại An Giang, giá nhiều loại lúa tươi như IR50404, OM5451, Đài Thơm và OM18 đều tăng so với tháng trước. Trong khi đó, tại Đồng Tháp, giá lúa khô lại giảm nhẹ. Đối với gạo hàng hóa, giá bán lẻ và giá thu mua nhìn chung ổn định hoặc tăng nhẹ. Giá gạo nguyên liệu thành phẩm cũng nhích lên ở cả phân khúc 5% và 25% tấm.

Giữ ổn định thị trường, nâng giá trị ngành hàng

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Lê Thanh Tùng, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam (VIETRISA) cho hay, nhu cầu tiêu dùng gạo toàn cầu trong 6 tháng cuối năm sẽ không có biến động lớn. Sản lượng và thương mại gạo thế giới hằng năm chỉ dao động trong một biên độ nhất định nên cung - cầu vẫn nằm trong dự báo. Tuy nhiên, El Nino đang tác động tới nhiều quốc gia Đông Nam Á và có thể ảnh hưởng đến sản xuất niên vụ 2026-2027. Nguồn cung bổ sung từ nay đến cuối năm chủ yếu đến từ vụ Hè Thu và Thu Đông, song sản lượng không quá lớn. Vì vậy, hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam được dự báo tiếp tục duy trì ổn định.

Về giá, ông Lê Thanh Tùng cho rằng có thể xuất hiện những đợt tăng cục bộ tại một số thị trường nhập khẩu lớn như Philippines hoặc Trung Quốc khi nhu cầu tăng đột biến, nhưng đây chủ yếu là biến động ngắn hạn. “Điều quan trọng là nông dân và doanh nghiệp cần bình tĩnh, chủ động tổ chức sản xuất theo kế hoạch, tránh chạy theo những biến động nhất thời của thị trường”, ông Tùng nhấn mạnh.

Theo ông Lê Thanh Tùng, phát triển sản xuất lúa giảm phát thải hiện không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu đối với toàn ngành lúa gạo Việt Nam. Với khoảng 3,8 triệu ha đất lúa và hơn 7 triệu ha gieo trồng mỗi năm, việc áp dụng các giải pháp giảm phát thải sẽ góp phần giảm chi phí đầu vào, nâng cao chất lượng hạt gạo, tăng thu nhập cho nông dân và đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, các giải pháp kỹ thuật cần được triển khai linh hoạt theo từng vùng sinh thái. Nếu Đồng bằng sông Cửu Long ưu tiên giảm lượng giống gieo sạ thì Đồng bằng sông Hồng cần phát huy lợi thế cơ giới hóa nhằm giảm chi phí lao động và nâng cao hiệu quả sản xuất.

Đặc biệt, ông Lê Thanh Tùng cho rằng, hợp tác xã tiếp tục giữ vai trò then chốt trong quá trình tái cơ cấu ngành lúa gạo. Việc liên kết các hộ nông dân thành những vùng sản xuất tập trung sẽ tạo điều kiện áp dụng đồng bộ cơ giới hóa, quy trình canh tác tiên tiến, giảm phát thải và xây dựng chuỗi liên kết tiêu thụ bền vững.

“Chúng ta cần thay đổi tư duy từ việc tạo ra những cánh đồng lớn với ít nông dân sang xây dựng những cánh đồng lớn có sự tham gia của nhiều nông dân thông qua hợp tác xã. Đây là hướng đi phù hợp với điều kiện sản xuất của Việt Nam và cũng là nền tảng để ngành lúa gạo nâng cao năng lực cạnh tranh trong thời gian tới”, ông Lê Thanh Tùng khẳng định.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đến cuối tháng 6, cả nước cơ bản hoàn thành thu hoạch vụ Đông Xuân 2026 với diện tích 2,93 triệu ha, giảm 1,3% do chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả. Tuy nhiên, nhờ năng suất bình quân đạt 69,8 tạ/ha, tăng 1,7%, sản lượng vẫn đạt gần 20,5 triệu tấn, tăng khoảng 88.000 tấn so với vụ trước. Trong khi đó, tiến độ gieo cấy vụ Hè Thu chậm hơn cùng kỳ do thu hoạch Đông Xuân kéo dài và ảnh hưởng của nắng nóng, thiếu nước, với diện tích xuống giống đến ngày 20/6 đạt khoảng 1,71 triệu ha, giảm 4,3% so với cùng kỳ năm 2025.

Nguyễn Hạnh

Có thể bạn quan tâm