Vì sao ngành gỗ vẫn loay hoay với vùng nguyên liệu?

Kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng, tuy nhiên, đằng sau những con số ấn tượng là áp lực ngày càng lớn đối với nguồn nguyên liệu gỗ trong nước.

Cạnh tranh nguyên liệu ngày càng gay gắt

Năm 2025, ngành chế biến gỗ xuất khẩu Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng mạnh với kim ngạch xuất khẩu vượt 17 tỷ USD. Năm 2026, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam đặt mục tiêu xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 18,5 tỷ USD, phấn đấu vượt 19 tỷ USD nếu thị trường thuận lợi. Tuy nhiên, đằng sau những con số ấn tượng là áp lực ngày càng lớn đối với nguồn nguyên liệu gỗ trong nước, yếu tố quyết định khả năng phát triển bền vững của toàn ngành.

Viên nén gỗ là loại nhiên liệu sinh khối được tiêu thụ nhiều nhất trên thế giới. Thị trường viên nén gỗ toàn cầu được dự đoán sẽ đạt 17,33 tỷ USD vào năm 2027.

Viên nén gỗ là loại nhiên liệu sinh khối được tiêu thụ nhiều nhất trên thế giới. Thị trường viên nén gỗ toàn cầu được dự đoán sẽ đạt 17,33 tỷ USD vào năm 2027.

Nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến xuất khẩu hiện đến từ hai kênh chính gồm gỗ nhập khẩu từ các quốc gia có nền quản trị rừng phát triển và nguồn gỗ nội địa, chủ yếu là gỗ rừng trồng và gỗ cao su. Khi nhu cầu xuất khẩu tăng lên, áp lực về nguồn cung nguyên liệu trong nước cũng ngày càng lớn. Hiện nay, các nhóm doanh nghiệp trong ngành sử dụng những loại nguyên liệu khác nhau. Doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ nội, ngoại thất cần gỗ có đường kính lớn; doanh nghiệp sản xuất ván dán sử dụng gỗ cỡ trung bình; trong khi các doanh nghiệp sản xuất dăm gỗ và viên nén tận dụng gỗ nhỏ, cành ngọn và phế phụ phẩm.

Thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp cùng sử dụng nguồn nguyên liệu keo, bạch đàn trong nước đang cạnh tranh trực tiếp với nhau. Tại khu vực phía Bắc, nguồn cung gỗ rừng trồng tiếp tục thiếu hụt sau thiệt hại do bão, khiến giá nguyên liệu tăng cao. Trong bối cảnh thị trường xuất khẩu gặp nhiều khó khăn, không ít doanh nghiệp chế biến ván và đồ gỗ gặp bất lợi khi thu mua nguyên liệu so với các doanh nghiệp sản xuất dăm gỗ.

Không chỉ cạnh tranh giữa các nhóm sản phẩm, sự cạnh tranh còn diễn ra ngay trong cùng một phân khúc. Các doanh nghiệp có tiềm lực tài chính, kinh nghiệm và chủ động xây dựng vùng nguyên liệu thông qua hợp tác với người trồng rừng đang có nhiều lợi thế hơn các doanh nghiệp nhỏ. Bên cạnh đó, việc nhiều doanh nghiệp cùng đầu tư vào một sản phẩm trên cùng địa bàn cũng tạo ra tình trạng mất cân đối giữa nguồn nguyên liệu và năng lực chế biến.

Chuyển từ hỗ trợ trồng rừng sang phát triển chuỗi giá trị

Năm 2026, trong bối cảnh Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, ngành gỗ cũng được kỳ vọng tiếp tục đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành nông nghiệp. Theo số liệu Hiệp hội Gỗ và lâm sản Việt Nam, 7 tháng năm 2026, xuất khẩu gỗ và lâm sản mới đạt 10,1 tỷ USD, tăng 4,9% so với cùng kỳ. Mức tăng này có thể chấp nhận được nếu so với mặt bằng chung của ngành nông nghiệp, nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với mục tiêu mà ngành gỗ đặt ra.

Tại Webinar "Nâng cao chuỗi giá trị ngành gỗ thông qua việc đẩy mạnh liên kết giữa khâu chế biến và vùng nguyên liệu bền vững và thị trường carbon: Từ góc nhìn vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long", TS. Hà Công Tuấn, nguyên Thứ trưởng Thường trực Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là  Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho rằng những bất cập về thể chế đang là một trong những nguyên nhân khiến liên kết giữa doanh nghiệp và người trồng rừng chưa hình thành bền vững.

Việt Nam hiện có khoảng 4 triệu ha rừng sản xuất với hơn 1 triệu hộ trồng rừng và hàng nghìn doanh nghiệp chế biến gỗ. Tuy nhiên, số lượng chuỗi liên kết ổn định từ vùng nguyên liệu đến chế biến và xuất khẩu vẫn còn rất ít. Hệ quả là nguồn nguyên liệu phân tán, giao dịch chủ yếu thông qua thương lái, gây khó khăn cho truy xuất nguồn gốc và đáp ứng các quy định ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế về tính hợp pháp của gỗ và quy định EUDR.

Đáng chú ý, khoảng 74% sản lượng gỗ rừng trồng hiện nay được sử dụng cho dăm gỗ và viên nén, khoảng 18% phục vụ sản xuất ván, trong khi chỉ khoảng 8% được sử dụng để chế biến đồ gỗ nội, ngoại thất. Theo ông, đây là dư địa rất lớn để chuyển dịch sang phát triển rừng gỗ lớn và nâng cao giá trị gia tăng.

Đánh giá về hệ thống chính sách hiện hành, TS. Hà Công Tuấn cho rằng pháp luật đất đai đã tạo nền tảng cho giao đất, cho thuê đất lâu dài và trao thêm quyền cho chủ rừng. Tuy nhiên, các chính sách vẫn chưa giải quyết hiệu quả tình trạng đất lâm nghiệp manh mún, thiếu cơ chế thúc đẩy liên kết giữa các hộ trồng rừng, khiến doanh nghiệp khó hình thành vùng nguyên liệu tập trung. Đối với chính sách lâm nghiệp, mặc dù Việt Nam đã ban hành nhiều cơ chế liên quan đến phát triển rừng gỗ lớn, chứng chỉ rừng, dịch vụ môi trường rừng và tín chỉ carbon, song phần lớn vẫn mang tính định hướng, chưa có đủ công cụ kinh tế để khuyến khích liên kết dài hạn.

Theo TS. Hà Công Tuấn, tư duy chính sách cần chuyển từ hỗ trợ trồng rừng sang phát triển chuỗi cung ứng, từ hỗ trợ từng tác nhân riêng lẻ sang xây dựng hệ sinh thái liên kết chuỗi giá trị. Trong đó, hộ trồng rừng cần trở thành đối tác sản xuất của doanh nghiệp thay vì chỉ bán gỗ; doanh nghiệp không chỉ thu mua mà phải tham gia đầu tư vùng nguyên liệu, từ giống, kỹ thuật đến bao tiêu sản phẩm. Vai trò của hợp tác xã như cầu nối giữa doanh nghiệp và người dân, đồng thời đề xuất có chính sách hỗ trợ lãi suất, ưu đãi thuế, bảo hiểm rừng, chứng chỉ quản lý rừng bền vững để khuyến khích các hợp đồng liên kết dài hạn. Các doanh nghiệp cần tăng cường liên kết trong chuỗi, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, tận dụng phụ phẩm của doanh nghiệp này làm nguyên liệu cho doanh nghiệp khác nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.

Bên cạnh đó, chuyển đổi số cũng là nền tảng quan trọng để hình thành vùng nguyên liệu bền vững. Doanh nghiệp cần chủ động xây dựng cơ sở dữ liệu vùng trồng, ứng dụng GPS, bản đồ số và nhật ký điện tử nhằm đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc của thị trường quốc tế. Đối với Đồng bằng sông Cửu Long, định hướng phát triển phải là rừng gỗ lớn gắn với nghiên cứu giống phù hợp, hoàn thiện quy trình kỹ thuật và xây dựng các mô hình kéo dài chu kỳ khai thác từ 7-10 năm. Theo tính toán, nếu nâng đường kính gỗ lên trên 30 cm, giá trị mỗi mét khối có thể tăng từ khoảng 1,15 triệu đồng lên 4-6 triệu đồng, tạo bước đột phá về hiệu quả kinh tế.

TS. Hà Công Tuấn cũng kiến nghị tiếp tục nghiên cứu tính chất cơ lý của gỗ vùng Đồng bằng sông Cửu Long, hoàn thiện quy trình chế biến nhằm tạo niềm tin cho doanh nghiệp và người dân đầu tư phát triển rừng gỗ lớn. Đồng thời, cần khai thác hiệu quả dữ liệu số về quy hoạch và vùng nguyên liệu để tăng cường kết nối giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người trồng rừng, qua đó hình thành chuỗi giá trị ngành gỗ bền vững, đáp ứng yêu cầu của các thị trường xuất khẩu trong giai đoạn mới.

Ngành gỗ xuất khẩu đứng trước cơ hội lớn từ thị trường carbon và chế biến sâu, song những nút thắt về thể chế, liên kết và vùng nguyên liệu vẫn là rào cản cần sớm tháo gỡ.

Nguyễn Hạnh

Có thể bạn quan tâm