Tổng thuật Tọa đàm “Xăng E10: Hiểu đúng, dùng tốt”

Sáng 30/6, tại TP. Hồ Chí Minh, Báo Công Thương tổ chức Tọa đàm “Xăng E10: Hiểu đúng, dùng tốt” nhằm đánh giá kết quả sau một tháng triển khai xăng sinh học E10 trên phạm vi cả nước, đồng thời trao đổi các giải pháp thúc đẩy phát triển nhiên liệu sinh học trong giai đoạn tới.

Việc triển khai lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống theo Thông tư số 50/2025/TT-BCT của Bộ Công Thương từ ngày 1/6/2026 đến nay diễn ra đúng tiến độ. Thị trường xăng dầu duy trì ổn định, nguồn cung ethanol nhiên liệu (E100), xăng nền và các sản phẩm xăng sinh học E5, E10 được bảo đảm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng; hệ thống phân phối hoạt động thông suốt, không xảy ra tình trạng gián đoạn hay thiếu hụt nguồn hàng.

Đại biểu tham dự tọa đàm “Xăng E10: Hiểu đúng, dùng tốt”.

Đại biểu tham dự tọa đàm “Xăng E10: Hiểu đúng, dùng tốt”.

Việc công bố giá cơ sở xăng E10RON95-III theo quy định tại Nghị quyết số 29/2026/NQ-CP ngày 16/6/2026 của Chính phủ đã được triển khai tại kỳ điều hành giá ngày 18/6/2026. Đây được xem là cơ sở quan trọng để doanh nghiệp chủ động trong hoạt động kinh doanh và mở rộng cung ứng xăng E10.

Theo thống kê, từ ngày 1-24/6/2026, tổng tiêu thụ xăng sinh học (E5, E10) khoảng 850 triệu lít. Trong đó, xăng E10 khoảng 800 triệu lít (chiếm 94,12%) và xăng E5 khoảng 50 triệu lít (chiếm 5,88%).

Nhằm đánh giá kết quả triển khai xăng sinh học E10 sau một tháng phân phối trên toàn quốc, nhận diện những khó khăn, vướng mắc cần tháo gỡ và lan tỏa các kinh nghiệm hiệu quả, Báo Công Thương tổ chức tọa đàm “Xăng E10: Hiểu đúng, dùng tốt”. Chương trình là diễn đàn để cơ quan quản lý, doanh nghiệp, nhà khoa học, chuyên gia và người tiêu dùng cùng trao đổi, chia sẻ thông tin, từ đó đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển nhiên liệu sinh học theo hướng bền vững.

Phó Tổng biên tập Báo Công Thương Nguyễn Tiến Cường, phát biểu tại tọa đàm.

Phó Tổng biên tập Báo Công Thương Nguyễn Tiến Cường, phát biểu tại tọa đàm.

Tọa đàm cũng góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về lợi ích, hiệu quả và cách sử dụng đúng xăng E10, đồng thời tạo cơ hội nhìn nhận toàn diện quá trình triển khai loại nhiên liệu này trong thực tiễn. Đây là bước đi quan trọng nhằm hiện thực hóa chủ trương của Chính phủ về phát triển nhiên liệu sinh học, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Một nội dung đáng chú ý được thảo luận tại tọa đàm là việc triển khai Nghị quyết số 29/2026/NQ-CP của Chính phủ về thí điểm một số chính sách trong lộ trình sử dụng xăng E10. Nghị quyết quy định các nội dung liên quan đến thuê dịch vụ thử nghiệm kiểm tra chất lượng xăng dầu, xác định xăng E10RON95-III là mặt hàng xăng sinh học tiêu dùng phổ biến do Nhà nước công bố giá, quy định các yếu tố hình thành giá cơ sở và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong quá trình thực hiện. Đây được xem là cơ sở quan trọng để hỗ trợ doanh nghiệp, bảo đảm thị trường vận hành ổn định và thúc đẩy phát triển xăng sinh học trong thời gian tới.

MC Thảo Vy điều phối các phiên thảo luận

MC Thảo Vy điều phối các phiên thảo luận

Tham dự tọa đàm có các diễn giả: ông Nguyễn Thành Nam - Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương); ông Lê Trung Hưng, Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Dầu Việt Nam - CTCP (PVOIL); ông Nguyễn Khắc Hiếu - Phó Trưởng phòng Quản lý năng lượng (Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh); ông Nguyễn Thanh Bình - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ô tô, Xe máy, Xe đạp Việt Nam; PGS.TS Ngô Thanh An - Trưởng khoa Công nghệ Hóa học (Trường Đại học Công Thương TP. Hồ Chí Minh).

Một tháng triển khai E10 trên toàn quốc: Thị trường ổn định, niềm tin được củng cố

- Việc phân phối xăng sinh học E10 trên toàn quốc từ ngày 1/6 là kết quả của một quá trình dài chuẩn bị kỹ lưỡng về cơ chế chính sách, cơ sở hạ tầng, tiêu chuẩn kỹ thuật. Xin ông cho biết những kết quả đã đạt được sau một tháng triển khai phân phối xăng E10 trên toàn quốc? Trong quá trình triển khai, chúng ta có những thuận lợi và gặp khó khăn gì? Các khó khăn đã được Bộ Công Thương cùng các Bộ/ngành phối hợp giải quyết ra sao?

Ông Nguyễn Thành Nam, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước cho biết, từ ngày 1/6/2026 đến nay, việc triển khai lộ trình phối trộn nhiên liệu sinh học theo quy định tại Thông tư 50/2025/TT-BCT cơ bản diễn ra đúng tiến độ. Thị trường xăng dầu duy trì ổn định, nguồn cung ethanol nhiên liệu (E100), xăng nền và các sản phẩm xăng sinh học E5, E10 được các doanh nghiệp bảo đảm đáp ứng nhu cầu thị trường; hệ thống phân phối vận hành thông suốt, không xảy ra tình trạng gián đoạn hay thiếu hụt nguồn cung.

Ông Nguyễn Thành Nam, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương).

Ông Nguyễn Thành Nam, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương).

Đặc biệt, việc công bố giá cơ sở xăng E10RON95-III theo Nghị quyết số 29/2026/NQ-CP của Chính phủ đã được thực hiện từ kỳ điều hành giá ngày 18/6/2026, tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động hơn trong hoạt động kinh doanh và mở rộng cung ứng E10. Từ ngày 1-24/6/2026, tổng lượng tiêu thụ xăng sinh học đạt khoảng 850 triệu lít, trong đó xăng E10 đạt khoảng 800 triệu lít, chiếm 94,12%; xăng E5 đạt khoảng 50 triệu lít, chiếm 5,88%.

Theo ông Nam, kết quả bước đầu đạt được nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng, Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước. Nghị quyết số 29/2026/NQ-CP đã kịp thời tháo gỡ nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai. Cùng với đó, sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp đã góp phần bảo đảm lộ trình được thực hiện đồng bộ. Các thương nhân kinh doanh xăng dầu cũng chủ động đầu tư kho bãi, hệ thống phối trộn, vận chuyển và hạ tầng kỹ thuật từ sớm nên quá trình chuyển đổi không gây xáo trộn thị trường.

Bên cạnh những kết quả tích cực, vẫn còn một số khó khăn cần tiếp tục xử lý. Nguồn cung ethanol trong nước chưa đáp ứng hoàn toàn nhu cầu lâu dài nên vẫn phải kết hợp với nguồn nhập khẩu. Một số cơ sở pha chế, phối trộn chưa vận hành đồng bộ. Ngoài ra, một bộ phận người tiêu dùng vẫn còn băn khoăn về khả năng tương thích của E10 đối với các phương tiện đời cũ và thiết bị sử dụng động cơ xăng chuyên dụng. Công tác truyền thông tại một số địa phương chưa đồng đều, trong khi các thông tin chưa được kiểm chứng trên mạng xã hội vẫn có thể ảnh hưởng đến tâm lý người tiêu dùng.

Để giải quyết các khó khăn, vướng mắc nêu trên, Bộ Công Thương đã và đang chủ động, phối hợp với các Bộ, ngành, hiệp hội, các cơ quan, đơn vị có liên quan triển khai thực hiện một số giải pháp sau:
Thứ nhất, theo dõi sát diễn biến cung cầu xăng E10, xăng E5, xăng nền và etanol nhiên liệu (E100); phối hợp với các doanh nghiệp đầu mối bảo đảm nguồn cung ổn định, đôn đốc đưa các cơ sở pha chế, phối trộn còn lại vào hoạt động theo đúng lộ trình, đồng thời tăng cường khả năng chủ động về nguồn nguyên liệu trong nước.
Thứ hai, tiếp tục tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc chuẩn bị nguồn cung E100, xăng nền và tình hình thực hiện lộ trình sử dụng xăng sinh học tại các địa phương; kiểm soát chặt chẽ chất lượng nhiên liệu, hoạt động pha chế, phối trộn, phân phối và kinh doanh xăng dầu; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, tiếp tục rà soát, hoàn thiện cơ sở dữ liệu về khả năng tương thích của các loại phương tiện đối với xăng E10; phối hợp với các hiệp hội, doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu ô tô, xe máy công bố đầy đủ danh mục phương tiện tương thích và hướng dẫn kỹ thuật đối với các nhóm phương tiện đặc thù.
Thứ tư, tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, công khai minh bạch các kết quả triển khai, kết quả kiểm tra, đánh giá kỹ thuật; chủ động cung cấp thông tin chính thống, kịp thời định hướng dư luận, nâng cao nhận thức của người dân và doanh nghiệp về lợi ích, hiệu quả và tính an toàn của xăng sinh học E10.
Thứ năm, tiếp tục theo dõi, đánh giá việc thực hiện Thông tư số 50/2025/TT BCT và Nghị quyết số 29/2026/NQ-CP; tổng hợp những khó khăn, vướng mắc phát sinh, kịp thời tham mưu Lãnh đạo Bộ báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và đề xuất hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm bảo đảm triển khai hiệu quả, đồng bộ và bền vững lộ trình sử dụng xăng sinh học E10 trên phạm vi toàn quốc.

- Thưa ông Nguyễn Khắc Hiếu, là địa bàn tiêu thụ xăng dầu lớn nhất cả nước với hàng nghìn cửa hàng bán lẻ và mật độ phương tiện rất cao. Xin ông cho biết mạng lưới phân phối xăng E10 và kết quả tiêu thụ trên địa bàn trong thời gian qua? Việc đồng loạt chuyển đổi sang xăng E10 trên toàn địa bàn một tháng qua được Sở tổ chức, giám sát và phối hợp với lực lượng quản lý thị trường, doanh nghiệp đầu mối ra sao để bảo đảm nguồn cung, kiểm soát chất lượng tại cây xăng?

Ông Nguyễn Khắc Hiếu, Phó Trưởng phòng Quản lý năng lượng, Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh cho biết, TP. Hồ Chí Minh là một trong những thị trường xăng dầu lớn nhất cả nước, giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh năng lượng, lưu thông hàng hóa và phục vụ nhu cầu sản xuất, kinh doanh của người dân, doanh nghiệp. Hiện Thành phố có khoảng 1.176 cửa hàng bán lẻ xăng dầu, sản lượng tiêu thụ bình quân khoảng 13.000 m³/ngày; tổng lượng xăng dầu tiêu thụ năm 2025 đạt khoảng 4,75 triệu tấn. Với quy mô lớn như vậy, việc triển khai xăng sinh học E10 được xác định phải chuẩn bị kỹ lưỡng, tổ chức đồng bộ và giám sát chặt chẽ.

Ông Nguyễn Khắc Hiếu, Phó Trưởng phòng Quản lý năng lượng, Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh.

Ông Nguyễn Khắc Hiếu, Phó Trưởng phòng Quản lý năng lượng, Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh.

Ngay sau khi có chủ trương và hướng dẫn của Trung ương, Sở Công Thương đã chủ động phối hợp với Bộ Công Thương, các cơ quan chức năng và cộng đồng doanh nghiệp triển khai các nhiệm vụ liên quan. Công tác rà soát được thực hiện trên toàn hệ thống phân phối, từ thương nhân đầu mối, thương nhân phân phối, tổng đại lý, đại lý đến các cửa hàng bán lẻ nhằm đánh giá mức độ sẵn sàng về nguồn hàng, kho chứa, vận chuyển, bồn bể, cột bơm và phương án phục vụ người tiêu dùng.

Sở Công Thương cũng đề nghị các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu xây dựng kế hoạch chuyển đổi phù hợp, bảo đảm nguồn cung E10, thực hiện vệ sinh và chuyển đổi bồn chứa, bố trí cột bơm, niêm yết thông tin đầy đủ và tập huấn cho nhân viên bán hàng. Theo ông Hiếu, việc nhân viên cửa hàng nắm vững thông tin và tư vấn đúng cho khách hàng là yếu tố quan trọng giúp người tiêu dùng yên tâm khi sử dụng nhiên liệu mới.

Song song đó, Sở Công Thương đã phối hợp với lực lượng quản lý thị trường và các cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh xăng dầu, tập trung vào chất lượng sản phẩm, nguồn gốc hàng hóa, đo lường, niêm yết và bán đúng giá, qua đó bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Sau hơn một tháng triển khai, thị trường xăng dầu trên địa bàn Thành phố cơ bản ổn định. Nguồn cung được bảo đảm, hoạt động phân phối diễn ra thông suốt, không ghi nhận tình trạng thiếu hàng hay biến động bất thường về giá do chuyển đổi sang E10. Đáng chú ý, nhận thức của người dân về xăng sinh học đã có nhiều chuyển biến tích cực thông qua các hoạt động truyền thông của cơ quan quản lý, doanh nghiệp và báo chí. Theo ông Hiếu, những kết quả bước đầu này là cơ sở quan trọng để TP. Hồ Chí Minh tiếp tục phối hợp với các đơn vị liên quan thúc đẩy lộ trình phát triển và mở rộng sử dụng nhiên liệu sinh học trong thời gian tới.

- Thưa ông Lê Trung Hưng, PVOIL là một trong những doanh nghiệp tiên phong, đã chủ động triển khai phân phối E10 từ rất sớm (15/5/2026 đã triển khai toàn hệ thống). Vậy doanh nghiệp đã có những giải pháp kỹ thuật nào để bảo đảm mỗi lít xăng E10 đến tay người dân luôn đạt chuẩn? Xin ông chia sẻ thêm sản lượng tiêu thụ của PVOIL sau một tháng triển khai rộng rãi, việc đảm bảo nguồn cung được chuẩn bị ra sao? Doanh nghiệp đã có các hoạt động truyền thông tới khách hàng như thế nào, thưa ông?

Ông Lê Trung Hưng, Phó Tổng Giám đốc PVOIL cho biết, thực hiện chủ trương của Chính phủ và Bộ Công Thương về triển khai xăng sinh học E10, PVOIL đã chủ động đầu tư hạ tầng, chuẩn bị nguồn cung và triển khai kinh doanh E10 trên toàn hệ thống từ ngày 15/5/2026.

Ông Lê Trung Hưng, Phó Tổng Giám đốc PVOIL.

Ông Lê Trung Hưng, Phó Tổng Giám đốc PVOIL.

Để bảo đảm chất lượng sản phẩm, doanh nghiệp đã đầu tư cơ sở vật chất phục vụ lưu chứa, pha chế và kiểm soát chất lượng. Hiện PVOIL có 13 cơ sở pha chế xăng sinh học E10 trên toàn quốc. Tại các cơ sở này, quy trình từ nhập nguyên liệu, lưu chứa, pha chế, lấy mẫu, lưu mẫu đến xuất bán đều được thực hiện chặt chẽ theo quy định kỹ thuật, nhằm bảo đảm mỗi lít xăng E10 đến tay người tiêu dùng đều đạt tiêu chuẩn chất lượng.

Theo ông Hưng, với năng lực pha chế hiện nay, PVOIL hoàn toàn có khả năng đáp ứng nhu cầu tiêu thụ E10 của toàn hệ thống cũng như cung cấp cho các đơn vị có nhu cầu. Nguồn xăng nền được bảo đảm từ các nhà máy lọc dầu trong nước như Nghi Sơn, Dung Quất và nguồn nhập khẩu khi cần thiết. Đối với ethanol, doanh nghiệp sử dụng cả nguồn cung trong nước và nhập khẩu, đồng thời luôn duy trì lượng tồn kho ở mức phù hợp để bảo đảm nguồn cung ổn định, kể cả khi nhu cầu thị trường tăng đột biến.

Ông Hưng cho biết thêm, ngay từ giai đoạn chuẩn bị triển khai, PVOIL đã phối hợp với các cơ quan quản lý, cơ quan chuyên môn tổ chức lấy mẫu, kiểm định chất lượng, đồng thời hướng dẫn hệ thống cửa hàng thực hiện chuyển đổi kinh doanh E10 một cách đồng bộ.

Sau hơn một tháng triển khai trên toàn hệ thống, sản lượng tiêu thụ xăng E10 của PVOIL ghi nhận mức tăng trưởng tích cực. Theo đánh giá của doanh nghiệp, người tiêu dùng ngày càng quan tâm và đón nhận sản phẩm nhờ những thông tin đầy đủ, chính xác về chất lượng, tính an toàn cũng như lợi ích môi trường mà E10 mang lại.

Về công tác truyền thông, PVOIL đã chủ động phối hợp với các cơ quan báo chí, truyền thông và hệ thống phân phối để cung cấp thông tin tới người dân. Theo ông Hưng, sự đồng hành của các cơ quan quản lý, báo chí và doanh nghiệp đã góp phần giúp người tiêu dùng hiểu đúng hơn về xăng E10, giảm bớt tâm lý e ngại và tạo niềm tin đối với loại nhiên liệu sinh học đang được nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng rộng rãi.

- Không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế là một trong các chủ trương xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta. Sau một tháng xăng E10 chính thức đi vào thị trường, PGS.TS đánh giá như thế nào về tác động đến môi trường, thói quen tiêu dùng và lộ trình chuyển đổi năng lượng xanh của Việt Nam? Theo PGS.TS, lợi ích kinh tế mà loại nhiên liệu này mang lại cho người dân và doanh nghiệp là như thế nào?

PGS.TS Ngô Thanh An, Trưởng khoa Công nghệ Hóa học, Trường Đại học Công Thương TP. Hồ Chí Minh cho rằng, chủ trương “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế” của Đảng và Nhà nước đòi hỏi những giải pháp vừa thúc đẩy phát triển kinh tế, vừa bảo vệ môi trường. Sau một tháng được triển khai rộng rãi, xăng sinh học E10 đang cho thấy tiềm năng đáp ứng đồng thời hai mục tiêu này.

PGS.TS Ngô Thanh An, Trưởng khoa Công nghệ Hóa học, Trường Đại học Công Thương TP. Hồ Chí Minh.

PGS.TS Ngô Thanh An, Trưởng khoa Công nghệ Hóa học, Trường Đại học Công Thương TP. Hồ Chí Minh.

Về mặt khoa học, E10 chứa 10% ethanol sinh học - hợp chất có khả năng bổ sung oxy cho quá trình cháy, giúp nhiên liệu đốt cháy hiệu quả hơn và giảm phát thải các chất ô nhiễm. Theo ông An, E10 có thể giảm phát thải khí CO, giảm lượng hydrocarbon chưa cháy hết và các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi.

Đồng thời, việc sử dụng nguyên liệu sinh học còn góp phần giảm phát thải CO₂ theo vòng đời sản phẩm do cây trồng hấp thụ khí carbon trong quá trình sinh trưởng. Quá trình cháy sạch hơn cũng giúp giảm muội than, cặn bám trong buồng đốt, góp phần bảo vệ động cơ. 

Theo PGS.TS Ngô Thanh An, việc chuyển sang sử dụng E10 không chỉ là thay đổi loại nhiên liệu mà còn là thay đổi nhận thức và hành vi tiêu dùng. Vì vậy, truyền thông khoa học minh bạch, dựa trên các kết quả kiểm chứng độc lập về hiệu suất và độ bền động cơ sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo niềm tin cho người dân.

Ở góc độ kinh tế, E10 mang lại lợi ích cho cả người tiêu dùng, doanh nghiệp và nền kinh tế. Giá bán E10 thường thấp hơn xăng khoáng, trong khi mức tiêu hao nhiên liệu chỉ tăng nhẹ. Đối với doanh nghiệp vận tải và logistics, nhiên liệu cháy sạch hơn có thể góp phần giảm chi phí bảo dưỡng trong dài hạn, đồng thời hỗ trợ đáp ứng các tiêu chí ESG ngày càng được thị trường quốc tế coi trọng. Về lâu dài, phát triển E10 còn giúp gia tăng giá trị cho các ngành nông nghiệp, chế biến sâu và giảm phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu, góp phần xây dựng chuỗi cung ứng xanh trong nước.

- Thưa ông, xăng nhiên liệu sinh học nói chung, xăng E10 nói riêng đã được sử dụng phổ biến tại hơn 60 quốc gia và kiểm chứng qua nhiều thập kỷ; thực tế một tháng qua phản hồi của người dùng trong nước cũng rất tích cực: xe vận hành ổn định, tiết kiệm chi phí. Với vai trò là tổ chức đại diện cho các nhà sản xuất, lắp ráp phương tiện, ông có thể khẳng định rõ hơn về tính tương thích của xăng E10 với các dòng xe đang lưu hành tại Việt Nam? Thời gian tới, Hiệp hội cùng các nhà sản xuất thành viên sẽ đồng hành với chủ trương của Bộ Công Thương ra sao trong hướng dẫn sử dụng và chính sách bảo hành để người dân yên tâm hơn nữa khi sử dụng xăng E10?

Ông Nguyễn Thanh Bình, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ô tô, Xe máy, Xe đạp Việt Nam cho biết, xăng sinh học E10 tại Việt Nam đã được kiểm nghiệm và ban hành theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8401:2024, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế như ASTM và ISO. Theo đó, E10 có tỷ lệ ethanol từ 9-10% theo thể tích, đáp ứng các yêu cầu về trị số octan, hàm lượng lưu huỳnh, benzen và các chỉ tiêu kỹ thuật khác, bảo đảm tương thích với các động cơ đánh lửa hiện đại.

Ông Nguyễn Thanh Bình, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ô tô, Xe máy, Xe đạp Việt Nam.

Ông Nguyễn Thanh Bình, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ô tô, Xe máy, Xe đạp Việt Nam.

Bên cạnh đó, các tiêu chuẩn cơ sở của doanh nghiệp đầu mối cũng được xây dựng trên nền tảng các quy chuẩn quốc gia về nhiên liệu sinh học và khí thải, phù hợp với lộ trình kiểm soát phát thải tại Việt Nam. Theo ông Bình, đây là cơ sở khoa học quan trọng để khẳng định E10 an toàn đối với phần lớn phương tiện đang lưu hành.

Về lợi ích môi trường, ethanol giúp quá trình cháy diễn ra hoàn thiện hơn, góp phần giảm phát thải khí CO, hydrocarbon và bụi mịn. Đồng thời, việc phát triển nhiên liệu sinh học còn góp phần nâng cao an ninh năng lượng, tận dụng nguồn nguyên liệu trong nước và giảm phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu. Với mức giá thường thấp hơn xăng khoáng truyền thống, E10 cũng mang lại lợi ích kinh tế cho người sử dụng.

Theo ông Bình, thực tiễn triển khai từ ngày 1/6/2026 cho thấy nguồn cung E10 ổn định, chất lượng được kiểm soát và người dân có thể yên tâm sử dụng. Đối với các dòng xe sản xuất sau năm 2000, hệ thống động cơ và nhiên liệu đã được thiết kế tương thích với E10 nên không ảnh hưởng đến hiệu suất, độ bền hay quyền lợi bảo hành. Với các phương tiện đời cũ (trước năm 2000), người dùng nên kiểm tra định kỳ hệ thống nhiên liệu, đặc biệt là các chi tiết bằng cao su hoặc nhựa.

Trong thời gian tới, hiệp hội sẽ phối hợp với Bộ Công Thương và các doanh nghiệp thành viên đẩy mạnh truyền thông, phổ biến hướng dẫn sử dụng E10, cung cấp thông tin kỹ thuật về tính tương thích của phương tiện, đồng thời phối hợp giám sát chất lượng nhiên liệu trên thị trường. Hiệp hội cũng sẽ tổng hợp phản hồi từ doanh nghiệp và người tiêu dùng để kiến nghị các giải pháp hoàn thiện chính sách, góp phần thúc đẩy lộ trình phát triển nhiên liệu sinh học tại Việt Nam.

Mở rộng phân phối xăng E10 và lộ trình năng lượng xanh

- Thưa ông, trong video chúng ta vừa xem ở đầu chương trình đặt ra ba vấn đề cho chặng đường tới: ổn định nguồn cung, duy trì chất lượng và giữ vững niềm tin người tiêu dùng. Trên nền tảng kết quả một tháng qua, Bộ Công Thương có kế hoạch và giải pháp gì để tiếp tục mở rộng tiêu thụ xăng E10 và bảo đảm nguồn cung ethanol ổn định? Việc tăng cường giám sát, kiểm soát chất lượng, tỷ lệ phối trộn, giá bán và xử lý kịp thời các phản ánh của người dân sẽ được cơ quan quản lý thực hiện ra sao?

Ông Nguyễn Thành Nam, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương).

Ông Nguyễn Thành Nam, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương).

Ông Nguyễn Thành Nam, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước: Trên cơ sở kết quả bước đầu sau một tháng triển khai thí điểm và mở rộng tiêu thụ xăng sinh học E10, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục tập trung vào một số nhóm giải pháp lớn:

Thứ nhất là bảo đảm nguồn cung etanol và xăng sinh học trên toàn hệ thống phân phối, không để thiếu hụt, đứt gãy nguồn cung trong mọi tình huống. Bộ sẽ tiếp tục theo dõi sát sao, nắm bắt thông tin, chỉ đạo các thương nhân kinh doanh xăng dầu và các nhà máy sản xuất etanol để xây dựng kế hoạch cung ứng dài hạn, bảo đảm đủ nguồn xăng sinh học cho thị trường. Đồng thời, Bộ Công Thương cũng sẽ rà soát năng lực sản xuất trong nước, chủ động phương án nhập khẩu bổ sung khi cần thiết nhằm không để xảy ra đứt gãy nguồn cung.

Cùng với đó là khuyến khích các doanh nghiệp xây dựng cơ sở pha chế, phối trộn, tồn trữ xăng sinh học, đồng thời phát triển hệ thống phân phối, nhất là tại các đô thị lớn, tuyến giao thông trọng điểm và khu vực có nhu cầu tiêu thụ cao.

Thứ hai là tiếp tục nâng cao chất lượng sản phẩm và củng cố niềm tin của người tiêu dùng. Bộ Công Thương sẽ phối hợp chặt chẽ với Bộ Khoa học và Công nghệ, các cơ quan tiêu chuẩn đo lường chất lượng và chỉ đạo lực lượng quản lý thị trường tăng cường kiểm tra chất lượng xăng sinh học tại các khâu từ pha chế, phối trộn, vận chuyển đến bán trực tiếp cho người tiêu dùng. Việc giám sát chất lượng xăng sinh học (E5, E10) sẽ được thực hiện thường xuyên bằng cả kiểm tra định kỳ và đột xuất, bảo đảm đúng tiêu chuẩn theo quy định để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.

Thứ ba là tăng cường công tác minh bạch thông tin, Bộ Công Thương sẽ yêu cầu các doanh nghiệp niêm yết công khai giá bán, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh và không để xảy ra tình trạng trục lợi bất chính. Đồng thời, các kênh tiếp nhận phản ánh của người dân, doanh nghiệp sẽ được duy trì thường xuyên; mọi phản ánh liên quan đến chất lượng, gian lận hoặc vi phạm trong kinh doanh xăng dầu sẽ được kiểm tra, xử lý kịp thời và công khai kết quả xử lý.

Song song với các giải pháp quản lý, Bộ Công Thương cũng sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác truyền thông, cung cấp thông tin khoa học, đầy đủ về hiệu quả kinh tế, môi trường và lợi ích của xăng E10 để người dân yên tâm sử dụng. Mục tiêu là từng bước hình thành thói quen tiêu dùng nhiên liệu sinh học, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và thực hiện cam kết giảm phát thải của Việt Nam.

- Thưa PGS.TS Ngô Thanh An, việc mở rộng sản xuất và tiêu thụ xăng E10 và tiến tới E15, E20 mở ra không gian phát triển nào cho cây trồng như: sắn, mía và ethanol thế hệ mới từ phụ phẩm nông nghiệp? Việt Nam cần chuẩn bị gì về khoa học công nghệ, nguồn nguyên liệu và nhân lực cho giai đoạn sau năm 2030?

PGS.TS Ngô Thanh An, Trưởng khoa Công nghệ Hóa học, Trường Đại học Công Thương TP. Hồ Chí Minh cho rằng, lộ trình phát triển từ E10 lên E15, E20 trong tương lai sẽ tạo ra nhu cầu ethanol ngày càng lớn, mở ra thị trường ổn định cho các vùng nguyên liệu như sắn và mía. Điều này không chỉ góp phần nâng cao giá trị nông sản mà còn thúc đẩy đầu tư vào chế biến sâu, tăng cường liên kết giữa nông dân, doanh nghiệp sản xuất và hệ thống phân phối.

PGS.TS Ngô Thanh An, Trưởng khoa Công nghệ Hóa học, Trường Đại học Công Thương TP. Hồ Chí Minh.

PGS.TS Ngô Thanh An, Trưởng khoa Công nghệ Hóa học, Trường Đại học Công Thương TP. Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên, theo ông An, việc phát triển ethanol thế hệ thứ nhất từ cây trồng năng lượng cần được quy hoạch khoa học để tránh ảnh hưởng đến an ninh lương thực. Đây là vấn đề đã được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm khi mở rộng quy mô sản xuất nhiên liệu sinh học.

Về dài hạn, hướng đi bền vững hơn là phát triển ethanol thế hệ thứ hai (2G) từ các phụ phẩm nông nghiệp như rơm rạ, bã mía, trấu hay vỏ cà phê. Việt Nam có lợi thế lớn khi mỗi năm phát sinh khối lượng lớn phụ phẩm nông nghiệp chưa được khai thác hiệu quả. Nguồn nguyên liệu này không cạnh tranh với sản xuất lương thực và có tiềm năng giảm phát thải khí nhà kính cao hơn. Tuy nhiên, thách thức hiện nay là chi phí công nghệ còn cao, đặc biệt ở các công đoạn xử lý sinh khối, sử dụng enzyme và chuyển hóa thành ethanol, đòi hỏi phải tăng cường đầu tư cho nghiên cứu và phát triển.

Theo PGS.TS Ngô Thanh An, để chuẩn bị cho giai đoạn sau năm 2030, Việt Nam cần tập trung vào ba trụ cột chính. Thứ nhất là làm chủ các công nghệ chuyển hóa sinh khối và sản xuất ethanol thế hệ mới. Thứ hai là xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các trường đại học nhằm rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến thương mại hóa. Thứ ba là đào tạo nguồn nhân lực liên ngành, bao gồm kỹ sư công nghệ sinh học, chuyên gia đánh giá vòng đời sản phẩm và chuyên gia quản lý tín chỉ carbon. Đây sẽ là những lực lượng quan trọng giúp ngành nhiên liệu sinh học phát triển bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị năng lượng xanh toàn cầu.

- Thưa ông Lê Trung Hưng, từ thực tiễn một tháng phân phối E10 trên diện rộng, đâu là những bài học kinh nghiệm lớn nhất mà PVOIL rút ra: từ khâu bảo đảm nguồn cung, kiểm soát chất lượng tồn chứa, vận chuyển cho đến hướng dẫn người tiêu dùng? Trong thời gian tới, doanh nghiệp có những giải pháp nào để bảo đảm nguồn ethanol nhiên liệu, nâng cao hơn nữa năng lực pha chế?

Ông Lê Trung Hưng, Phó Tổng Giám đốc PVOIL cho biết, sau hơn một tháng triển khai kinh doanh xăng E10 trên diện rộng, bài học kinh nghiệm quan trọng nhất là phải chủ động bảo đảm nguồn nguyên liệu pha chế, đặc biệt là nguồn xăng nền RON 92, RON 95 và ethanol nhiên liệu.

Theo ông Hưng, PVOIL là đơn vị thành viên của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), vì vậy doanh nghiệp nhận được sự hỗ trợ chặt chẽ từ tập đoàn và các đơn vị trong chuỗi cung ứng. Trong thời gian qua, sự phối hợp hiệu quả với các nhà máy lọc dầu trong nước đã góp phần bảo đảm nguồn xăng nền phục vụ pha chế E5 và E10, ngay cả trong bối cảnh thị trường năng lượng thế giới có nhiều biến động.

Ông Lê Trung Hưng, Phó Tổng Giám đốc PVOIL.

Ông Lê Trung Hưng, Phó Tổng Giám đốc PVOIL.

Để bảo đảm nguồn cung ổn định, PVOIL đã tận dụng lợi thế hệ thống 31 kho xăng dầu trên toàn quốc, lựa chọn các kho có cơ cấu bồn bể phù hợp để tồn chứa xăng nền và ethanol, phục vụ công tác pha chế theo đúng quy chuẩn kỹ thuật. Doanh nghiệp cũng chủ động đổi mới phương thức pha chế nhằm rút ngắn thời gian xử lý, tăng tốc độ cung ứng hàng hóa ra thị trường. Nhờ đó, dù nhu cầu tiêu thụ tăng mạnh trong thời gian qua, hệ thống vẫn đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng.

Về công tác kiểm soát chất lượng, PVOIL hoàn thiện các quy trình, tiêu chuẩn và hướng dẫn liên quan đến hoạt động tồn chứa, pha chế, vận chuyển và phân phối E10. Các bộ hướng dẫn được ban hành cho từng khâu, từ kho đầu mối đến cửa hàng bán lẻ, đồng thời doanh nghiệp đẩy mạnh truyền thông để người tiêu dùng hiểu rõ hơn về chất lượng và lợi ích của xăng sinh học.

Trong thời gian tới, PVOIL sẽ tiếp tục tận dụng tối đa nguồn ethanol sản xuất trong nước, đồng thời chủ động khai thác các nguồn nhập khẩu từ những thị trường có nguồn cung dồi dào như Mỹ và Brazil nhằm bảo đảm nguồn nguyên liệu cho lộ trình phát triển E10. Bên cạnh đó, doanh nghiệp đang tiếp tục nâng cấp hệ thống tồn chứa ethanol tại các kho đầu mối, qua đó nâng cao năng lực pha chế và bảo đảm nguồn cung ổn định cho thị trường.

- Một trong những chính sách mới nhất là ngày 16/6/2026, Chính phủ đã có Nghị quyết số 29/2026/NQ-CP ban hành thí điểm một số chính sách trong lộ trình triển khai sử dụng xăng E10. Xin ông Nguyễn Thành Nam cho biết những nội dung nổi bật của chính sách này, Bộ Công Thương đã có kế hoạch triển khai Nghị quyết này ra sao?

Ông Nguyễn Thành Nam, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước cho biết, Nghị quyết số 29/2026/NQ-CP ngày 16/6/2026 của Chính phủ không chỉ bổ sung một số cơ chế, chính sách phục vụ triển khai xăng E10 mà còn tạo hành lang pháp lý và cơ chế điều hành đồng bộ để phát triển thị trường xăng sinh học theo hướng ổn định, bền vững.

Theo ông Nam, một trong những nội dung quan trọng của Nghị quyết là xác định xăng E10RON95-III là mặt hàng xăng sinh học tiêu dùng phổ biến do Nhà nước công bố giá cơ sở, đồng thời quy định rõ các yếu tố hình thành giá. Quy định này giúp doanh nghiệp có cơ sở xác định giá bán, hạn chế rủi ro trong quá trình chuyển đổi từ kinh doanh xăng khoáng sang xăng sinh học.

Nghị quyết cũng cho phép thương nhân đầu mối sản xuất, đầu mối kinh doanh xăng dầu được thuê dịch vụ thử nghiệm của các tổ chức thử nghiệm được chỉ định để kiểm tra chất lượng xăng dầu. Hình thức này được chấp nhận thay cho yêu cầu phải sở hữu phòng thử nghiệm riêng, qua đó giúp doanh nghiệp giảm chi phí đầu tư ban đầu, rút ngắn thời gian chuẩn bị cơ sở vật chất và đẩy nhanh tiến độ triển khai pha chế, phối trộn xăng E10.

Bên cạnh đó, cơ chế xử lý lượng xăng khoáng còn tồn trong hệ thống kinh doanh xăng dầu cũng góp phần giảm áp lực tồn kho, hạn chế thiệt hại tài chính và tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động chuyển đổi theo lộ trình.

Ngay sau khi Nghị quyết được ban hành, Bộ Công Thương đã thông báo và hướng dẫn triển khai đến các Sở Công Thương, hiệp hội, doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu và các đơn vị liên quan. Đồng thời, tại kỳ điều hành giá ngày 18/6/2026, Bộ đã công bố giá cơ sở đối với mặt hàng xăng E10RON95-III theo quy định.

Trong thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp triển khai hiệu quả Nghị quyết số 29/2026/NQ-CP cùng lộ trình phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống theo Thông tư số 50/2025/TT-BCT, góp phần thúc đẩy phát triển thị trường xăng sinh học bền vững trên phạm vi cả nước.

- Trong giai đoạn tới, TP. Hồ Chí Minh có những giải pháp, kiến nghị gì để việc sử dụng xăng E10 ngày càng phổ biến, gắn với mục tiêu giảm phát thải và phát triển đô thị xanh của Thành phố? Ở góc độ địa phương, TP. Hồ Chí Minh đã có bước đi cụ thể nào để triển khai Nghị quyết số 29/2026/NQ-CP ban hành thí điểm một số chính sách trong lộ trình triển khai sử dụng xăng E10?

Ông Nguyễn Khắc Hiếu, Phó Trưởng phòng Quản lý năng lượng, Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh cho biết, Thành phố xác định việc phát triển và mở rộng sử dụng xăng sinh học E10 là một trong những giải pháp thiết thực nhằm thúc đẩy tăng trưởng xanh, giảm phát thải khí nhà kính, xây dựng đô thị xanh và từng bước chuyển đổi cơ cấu năng lượng trong lĩnh vực giao thông vận tải.

Ông Nguyễn Khắc Hiếu, Phó Trưởng phòng Quản lý năng lượng, Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh.

Ông Nguyễn Khắc Hiếu, Phó Trưởng phòng Quản lý năng lượng, Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh.

Theo ông Hiếu, TP. Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục bám sát chỉ đạo của Chính phủ và Bộ Công Thương trong quá trình triển khai, đồng thời theo dõi chặt chẽ diễn biến thị trường, nguồn cung, giá bán và chất lượng xăng dầu để kịp thời tham mưu các giải pháp xử lý khi phát sinh vấn đề.

Để bảo đảm lộ trình triển khai hiệu quả, Thành phố tập trung thực hiện bốn nhóm giải pháp trọng tâm. Trước hết là bảo đảm nguồn cung ổn định thông qua việc thường xuyên làm việc với các thương nhân đầu mối và thương nhân phân phối để nắm bắt kế hoạch nhập hàng, dự trữ và vận chuyển. Thứ hai là tăng cường kiểm soát chất lượng sản phẩm, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; phối hợp với lực lượng quản lý thị trường kiểm tra, xử lý các hành vi gian lận thương mại, vi phạm về chất lượng, đo lường và niêm yết giá.

Bên cạnh đó, Thành phố sẽ đồng hành cùng doanh nghiệp, lắng nghe và tổng hợp những khó khăn, vướng mắc liên quan đến đầu tư kho chứa, hệ thống phối trộn và hạ tầng bán lẻ để kiến nghị các giải pháp tháo gỡ phù hợp. Đồng thời, công tác truyền thông sẽ tiếp tục được đẩy mạnh nhằm giúp người dân hiểu rõ hơn về chất lượng, tính tương thích và lợi ích môi trường của nhiên liệu sinh học.

Với vai trò là trung tâm kinh tế lớn của cả nước, TP. Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Bộ Công Thương, cộng đồng doanh nghiệp và người dân để phát triển thị trường xăng E10 theo hướng ổn định, minh bạch, an toàn và bền vững.

- Ở góc độ doanh nghiệp, đại diện của PVOIL có ý kiến đóng góp gì cho lộ trình triển khai xăng E10 theo tinh thần Nghị quyết số 29/2026/NQ-CP, thưa ông?

Ông Lê Trung Hưng, Phó Tổng Giám đốc PVOIL Cho biết, PVOIL đồng tình và ủng hộ lộ trình phát triển nhiên liệu sinh học theo tinh thần Nghị quyết số 29/2026/NQ-CP của Chính phủ. Theo ông, để lộ trình này được triển khai hiệu quả, cần tiếp tục có các chính sách hỗ trợ phát triển nguồn nguyên liệu và mở rộng năng lực sản xuất ethanol trong nước nhằm bảo đảm nguồn cung phục vụ pha chế xăng sinh học.

Ông Hưng cho rằng, cùng với việc phát triển các nhà máy sản xuất ethanol nhiên liệu, cần nghiên cứu và hoàn thiện các cơ chế, chính sách liên quan đến hoạt động kinh doanh các loại xăng sinh học như E10, E20 trong tương lai. Bên cạnh đó, việc bảo đảm các phương tiện giao thông tương thích với nhiên liệu sinh học cũng là yếu tố quan trọng để thúc đẩy quá trình chuyển đổi.

Theo lộ trình được Chính phủ định hướng, đến năm 2030 sẽ tiếp tục duy trì và phát triển các dòng nhiên liệu sinh học. Vì vậy, các doanh nghiệp đầu mối như PVOIL cần chủ động chuẩn bị hạ tầng kỹ thuật để đáp ứng yêu cầu của thị trường trong từng giai đoạn.

Đại diện PVOIL cho biết, khi tỷ lệ ethanol trong nhiên liệu tăng lên, doanh nghiệp sẽ tiếp tục đầu tư hệ thống bồn bể, kho chứa, công nghệ và dây chuyền pha chế phù hợp. Công tác tồn chứa, vận hành và kiểm soát chất lượng cũng cần được nâng cấp đồng bộ để đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật đối với các loại nhiên liệu sinh học thế hệ mới.

Theo ông Hưng, PVOIL đã có sự chuẩn bị từ sớm và chủ động xây dựng lộ trình đầu tư hạ tầng, do đó hoàn toàn có thể đáp ứng các yêu cầu triển khai trong thời gian tới, góp phần thực hiện hiệu quả chủ trương phát triển nhiên liệu sinh học và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Phát triển nhiên liệu sinh học cần lộ trình dài hạn, ổn định

- Từ kinh nghiệm của Việt Nam và tham khảo lộ trình của các quốc gia đi trước như Brazil, Thái Lan, Ấn Độ, theo các diễn giả, đâu sẽ là những bước đi tiếp theo trong lộ trình phát triển nhiên liệu sinh học? Việt Nam cần chuẩn bị những điều kiện gì để sẵn sàng cho giai đoạn này?

Ông Nguyễn Thành Nam, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước: Trong giai đoạn tiếp theo, nhiều quốc gia đang hướng tới việc nâng dần tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống, phát triển biodiesel cho vận tải, đồng thời đầu tư mạnh vào nhiên liệu sinh học thế hệ mới tận dụng phụ phẩm nông nghiệp, chất thải hữu cơ thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào cây lương thực. Xa hơn, nhiên liệu sinh học còn được tích hợp vào chiến lược giảm phát thải carbon, phục vụ các lĩnh vực khó chuyển đổi như hàng không, vận tải biển và công nghiệp nặng.

Đối với Việt Nam, để sẵn sàng cho giai đoạn phát triển mới này, điều quan trọng trước hết là phải xây dựng được nguồn nguyên liệu ổn định và bền vững, gắn với lợi thế của nền nông nghiệp trong nước. Song song với đó là hoàn thiện cơ chế, chính sách dài hạn nhằm tạo các điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ, hạ tầng pha chế, phối trộn và hệ thống phân phối nhiên liệu sinh học.

Bên cạnh yếu tố chính sách, Việt Nam cũng cần chú trọng phát triển công nghệ sản xuất nhiên liệu sinh học thế hệ 2, nâng cao năng lực nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và thúc đẩy chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu dùng. Đồng thời, việc nâng cao nhận thức của người tiêu dùng và xây dựng thị trường tiêu thụ ổn định cũng sẽ đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi.

Bài học từ Brazil hay Thái Lan cho thấy, thành công của nhiên liệu sinh học không chỉ đến từ công nghệ hay nguồn nguyên liệu, mà còn phụ thuộc rất lớn vào việc định hướng chiến lược, chính sách và tầm nhìn dài hạn của quốc gia. Khi có một lộ trình rõ ràng và ổn định, doanh nghiệp mới đủ niềm tin để đầu tư, còn thị trường mới có thể phát triển bền vững trong dài hạn.

PGS.TS Ngô Thanh An, Trưởng khoa Công nghệ Hóa học, Trường Đại học Công Thương TP. Hồ Chí Minh cho rằng kinh nghiệm từ các quốc gia đi đầu về nhiên liệu sinh học như Brazil, Thái Lan và Ấn Độ cho thấy nhiên liệu sinh học chỉ có thể phát triển bền vững khi được hỗ trợ bởi chính sách dài hạn, hạ tầng đồng bộ và công nghệ liên tục được nâng cấp.

Theo PGS.TS Ngô Thanh An, trong giai đoạn tới, Việt Nam cần tập trung vào ba định hướng lớn. Trước hết là từng bước nâng tỷ lệ phối trộn từ E10 lên E15, E20 theo lộ trình phù hợp, dựa trên các đánh giá khoa học và kỹ thuật độc lập. Thứ hai là phát triển ethanol thế hệ hai từ phụ phẩm nông nghiệp như rơm rạ, bã mía, trấu và các nguồn sinh khối khác nhằm giảm phụ thuộc vào cây trồng nguyên liệu, đồng thời tận dụng lợi thế nông nghiệp của Việt Nam. Thứ ba là từng bước gắn nhiên liệu sinh học với thị trường tín chỉ carbon, tạo thêm nguồn giá trị kinh tế từ việc giảm phát thải khí nhà kính.

PGS.TS Ngô Thanh An nhấn mạnh, điều kiện quan trọng nhất để ngành nhiên liệu sinh học phát triển là sự ổn định và nhất quán của cơ chế, chính sách. Các dự án sản xuất ethanol thường có vòng đời đầu tư từ 15-20 năm, trong khi vùng nguyên liệu cần nhiều năm để hình thành và phát triển. Do đó, doanh nghiệp chỉ mạnh dạn đầu tư khi có một lộ trình rõ ràng và môi trường chính sách ổn định.

Để tạo nền tảng phát triển lâu dài, theo PGS.TS Ngô Thanh An, cần duy trì các chính sách ưu đãi phù hợp đối với nhiên liệu sinh học, thúc đẩy tín dụng xanh cho các dự án năng lượng sinh học và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật theo hướng ổn định, tương thích với thông lệ quốc tế. Đây là những yếu tố quan trọng giúp ngành nhiên liệu sinh học phát triển theo cơ chế thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát huy hiệu quả trong quá trình chuyển đổi năng lượng xanh.

Thanh Minh

Có thể bạn quan tâm