Tiến sĩ Nguyễn Duy Bình: Mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số là có cơ sở

Mức tăng trưởng 8,18% cho thấy nền kinh tế đang phục hồi tích cực. Nếu tận dụng tốt đầu tư, tiêu dùng và FDI chất lượng cao, Việt Nam có cơ sở đạt tăng trưởng cao hơn.

Nhằm làm rõ hơn các động lực, giải pháp thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam (tổ chức hoạt động trong các lĩnh vực tư vấn phát triển, nghiên cứu kinh tế, phân tích chính sách và quản trị dự án).

Tăng trưởng 8,18% phản án sức chống chịu của nền kinh tế

- Thưa ông, ông nhìn nhận như thế nào về mức tăng trưởng kinh tế (GDP) 8,18% trong 6 tháng đầu năm 2026?

TS. Lê Duy Bình: Đây là kết quả rất đáng ghi nhận trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều biến động bất lợi, từ xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng cục bộ cho tới áp lực lạm phát tại nhiều nền kinh tế lớn. Mức tăng trưởng kinh tế 8,18% cho thấy nỗ lực rất lớn của toàn bộ nền kinh tế, từ Chính phủ, chính quyền địa phương, cộng đồng doanh nghiệp đến người dân.

TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam.

TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam.

Điều đáng chú ý là tăng trưởng diễn ra khá đồng đều ở các khu vực kinh tế. Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng hai con số, qua đó kéo khu vực công nghiệp và xây dựng tăng gần 10%. Khu vực dịch vụ phục hồi mạnh nhờ thương mại, vận tải, du lịch và tiêu dùng nội địa sôi động. Nông nghiệp cũng duy trì đà tăng ổn định, vừa bảo đảm nguồn cung trong nước, vừa hỗ trợ xuất khẩu. Theo tôi, đây là dấu hiệu cho thấy sức chống chịu của nền kinh tế và của cộng đồng doanh nghiệp đã được cải thiện đáng kể so với trước đây.

- Đâu là những nền tảng quan trọng hỗ trợ cho mức tăng trưởng này, thưa ông?

TS. Lê Duy Bình: Trước hết là sự ổn định tương đối của kinh tế vĩ mô. Các cân đối lớn của nền kinh tế vẫn được duy trì trong tầm kiểm soát. Tổng cầu được hỗ trợ bởi nhiều động lực cùng lúc: xuất khẩu tăng mạnh, tiêu dùng trong nước duy trì đà tăng, đầu tư của khu vực tư nhân tiếp tục mở rộng và đầu tư công dù chưa đạt kỳ vọng nhưng quy mô giải ngân tuyệt đối vẫn cao hơn cùng kỳ năm trước.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý hai vấn đề là áp lực lạm phát có xu hướng gia tăng và cán cân thương mại đang chuyển sang trạng thái nhập siêu. Đây là những yếu tố cần được theo dõi chặt chẽ trong nửa cuối năm.

- Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng cả năm được đặt ở mức trên 10%, áp lực đối với 6 tháng cuối năm có lớn không, thưa ông?

TS. Lê Duy Bình: Áp lực chắc chắn rất lớn, bởi để đạt mục tiêu hai con số thì tốc độ tăng trưởng trong nửa cuối năm phải cao hơn đáng kể so với 6 tháng đầu năm. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có cơ sở để kỳ vọng.

Nếu xung đột địa chính trị trên thế giới dịu bớt, nhu cầu đối với hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam tại các thị trường lớn sẽ phục hồi mạnh hơn vào những tháng cuối năm, đặc biệt trong mùa tiêu dùng cao điểm. Đồng thời, chi phí nguyên vật liệu và tư liệu sản xuất có thể giảm bớt áp lực.

Quan trọng hơn, trong nước chúng ta đang nỗ lực duy trì các động lực tăng trưởng truyền thống như xuất khẩu, đầu tư và tiêu dùng, đồng thời mở rộng các không gian tăng trưởng mới. Những yếu tố này có thể giúp tốc độ tăng trưởng của 6 tháng cuối năm cao hơn giai đoạn đầu năm.

- Ông đánh giá thế nào về vai trò của đầu tư công trong giai đoạn tới?

TS. Lê Duy Bình: Đầu tư công vẫn là một động lực rất quan trọng. Dù tốc độ giải ngân chưa đạt như mong muốn, nhưng về giá trị tuyệt đối đã tăng so với cùng kỳ năm trước. Nếu tiến độ giải ngân được cải thiện mạnh trong những tháng cuối năm, hiệu ứng lan tỏa sang công nghiệp, xây dựng, logistics và tiêu dùng sẽ rất đáng kể.

Bên cạnh đó, đầu tư tư nhân cũng có khả năng phục hồi mạnh hơn khi môi trường chính sách trở nên rõ ràng và ổn định hơn. Đây là yếu tố có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng bền vững.

FDI chất lượng cao sẽ là lực kéo mới cho xuất khẩu

- Ông đánh giá thế nào về tác động của Nghị quyết 10-NQ/TW đối với xuất khẩu trong thời gian tới?

TS. Lê Duy Bình: Tôi cho rằng Nghị quyết 10-NQ/TW thể hiện một tư duy mới trong việc nhìn nhận khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Mục tiêu không chỉ là thu hút thêm vốn FDI, mà là nâng cao chất lượng đóng góp của khu vực này đối với nền kinh tế Việt Nam.

Nghị quyết nhấn mạnh việc thu hút các dự án công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, có khả năng chuyển giao công nghệ và tạo liên kết với doanh nghiệp trong nước. Đây là điểm rất quan trọng.

Đối với xuất khẩu, tác động sẽ thể hiện ở ba khía cạnh. Thứ nhất, FDI chất lượng cao sẽ giúp mở rộng quy mô xuất khẩu, đặc biệt ở các lĩnh vực công nghệ cao và giá trị gia tăng lớn. Thứ hai, sự liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước sẽ giúp nâng tỷ trọng đóng góp của khu vực doanh nghiệp Việt Nam trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Thứ ba, hàm lượng công nghệ, tri thức và giá trị gia tăng trong hàng hóa xuất khẩu sẽ cao hơn, giúp Việt Nam tham gia ở vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.

- Như vậy, mục tiêu tăng trưởng hai con số có gắn chặt với chiến lược thu hút FDI mới?

TS. Lê Duy Bình: Đúng vậy. Nếu trước đây chúng ta chủ yếu quan tâm đến quy mô vốn đầu tư thì nay phải quan tâm nhiều hơn đến chất lượng và khả năng lan tỏa của dòng vốn đó. Việc thu hút các dự án bán dẫn, trung tâm dữ liệu, công nghệ số, năng lượng sạch hay sản xuất thiết bị công nghệ cao không chỉ tạo thêm việc làm mà còn giúp nâng năng suất tổng hợp của nền kinh tế. Đây chính là một trong những điều kiện quan trọng để duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn.

- Theo ông, đâu là yếu tố quyết định để xuất khẩu tăng bền vững trong giai đoạn tới?

TS. Lê Duy Bình: Ngoài FDI, yếu tố quyết định vẫn là năng lực nội sinh của doanh nghiệp Việt Nam. Hiện cả nước có khoảng 1 triệu doanh nghiệp, chưa kể hàng triệu hộ kinh doanh và doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Nếu đến năm 2030 nâng số doanh nghiệp lên khoảng 2 triệu, khu vực trong nước hoàn toàn có khả năng tham gia sâu hơn vào hoạt động xuất khẩu.

Vấn đề cốt lõi là doanh nghiệp phải đầu tư cho nghiên cứu - phát triển, làm chủ công nghệ và tham gia mạnh hơn vào công nghiệp hỗ trợ. Không chỉ sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh, doanh nghiệp Việt Nam cần sản xuất được linh kiện, chi tiết để tham gia chuỗi giá trị của các ngành công nghệ cao.

- Ông kỳ vọng gì vào sự chuyển dịch này?

TS. Lê Duy Bình: Khi nâng được hàm lượng công nghệ và tỷ lệ nội địa hóa, xuất khẩu của Việt Nam sẽ không chỉ tăng về quy mô mà còn tăng về chất lượng. Giá trị gia tăng ở lại trong nền kinh tế sẽ cao hơn, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam sẽ được cải thiện và vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu cũng sẽ được nâng lên.

Tôi cho rằng mục tiêu tăng trưởng hai con số là một thách thức rất lớn, nhưng không phải không có cơ sở. Điều quan trọng là phải tiếp tục củng cố các động lực hiện có, đồng thời tạo ra những động lực mới từ đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế xanh và dòng vốn FDI chất lượng cao. Nếu làm tốt điều đó, Việt Nam hoàn toàn có thể bước vào một giai đoạn tăng trưởng cao và bền vững hơn trong những năm tới.

Xin cảm ơn ông!

Tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm đạt 8,18% phản ánh sức chống chịu và năng lực phục hồi của nền kinh tế trong bối cảnh nhiều bất ổn toàn cầu. Nếu duy trì được các động lực tăng trưởng truyền thống, đồng thời tận dụng hiệu quả làn sóng FDI chất lượng cao theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW, Việt Nam có cơ sở để hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Nguyễn Hạnh (thực hiện)

Có thể bạn quan tâm