


Nhiều điểm mới tại chợ hoa Xuân phố cổ Tết Bính Ngọ 2026

Người thợ rèn cuối cùng ‘giữ lửa’ trên đất phố cổ Lò Rèn
Phố cổ Hà Nội đìu hiu, không khí buôn bán trầm lắng
Hà Nội: Phố cổ thông thoáng sau khi thí điểm cấm xe trên 16 chỗ

Hơn cả bạc vàng
“Hơn cả bạc vàng” là nhan đề bài viết của tác giả, nhà báo Vũ Thị Tuyết Nhung, trân trọng kính mời quý vị cùng lắng nghe.
Bài viết:
Trong gian nhà được coi là gian nhà thờ của đại gia đình, nghệ nhân Nguyễn Văn Mẫn còn lưu giữ một chiếc cân tiểu ly nhà nghề khi xưa mà cụ hàng coi là một thứ kỷ vật giàu ý nghĩa.
Dường như cụ muốn nhắc nhủ các cháu con hãy luôn giữ một tấm lòng ngay thẳng, trung thực trong nghề nghiệp cũng như trong giao tiếp, ứng xử hàng ngày. Chữ "Tín" trong nghề vàng bạc mới là chữ đáng coi trọng nhất.
![]() |
| Hà Nội bảo tồn nghề vàng bạc |
Thoạt nhìn, đôi vợ chồng người thợ kim hoàn Tân - Dung ở nhà số 10 phố Hàng Bạc nom có vẻ như không cân xứng tuổi tác. Khách vào nhà, có người gọi vợ là chị mà lại gọi chồng là bác. Nhưng rồi có sao, ba mươi năm qua họ vẫn chung sống thuận hoà, ấm êm bên nhau, sinh con, nở cháu, làm ăn phát đạt, tấn tới.
Người góp công đầu tác thành nên đôi, nên lứa cho anh và chị chẳng phải đâu xa. Đó chính là ông thầy dạy nghề của anh. Và ông cũng chính là bố đẻ của chị. Ông là nghệ nhân kim hoàn Nguyễn Văn Mẫn. Cái lý mà ông kén rể khi xưa, thật rất giản dị:
- Anh ấy tuy hơi lớn tuổi, song người thật thà, trung hậu, lại giỏi tay nghề nhất trong số thợ cùng lứa. Bởi vậy, không những con mà cha mẹ và các em cũng có thể nhờ cậy. Cha chỉ luôn mong điều tốt cho các con. Trong cuộc đời làm nghề bao năm, chẳng những anh chị Tân
- Dung đã học được ở người cha, người thấy của mình những kỹ xảo của nghề kim hoàn, mà còn học được ở ông những phẩm cách cao quý của người thợ chân chính, cũng như trách nhiệm và bồn phận nhất thiết của một con người trong gia đình và ngoài xã hội.
Bà Nguyễn Thị Hạnh, con gái phố Hàng Mắm làm dầu phố Hàng Bạc là một trong những người hàng xóm đồng thời là khách hàng của hiệu vàng Tân Dung rất tín nhiệm tay nghề và phong cách giao tiếp của ông chủ:
- Ông Tân làm hàng rất khéo, vào diện thợ cao tay nghề ở phố Hàng Bạc này. Ông ăn nói lại rất nhỏ nhẹ, từ tốn, khiêm nhượng. Ai ai cũng yêu quý, tín nhiệm. Nghệ nhân Nguyễn Văn Mẫn vốn quê gốc ở làng nghề chạm bạc Đồng Xâm, Thái Bình. Song gia đình ông đã sinh sống và lập nghiệp gần nửa thế kỷ trên đất Hà Nội, tại chính dãy phố Thịnh Yên này. Vào những năm dưới chế độ bao cấp đầy gian nan, khó khăn, nhà nước quản lý ngặt nghèo, biết bao thợ kim hoàn đã phải bỏ nghề. Song ông thì như một số đồng nghiệp giàu tâm huyết, vẫn âm thầm, đau đáu giữ nghề. Ông còn hơn người là ở chỗ, đã kiên nhẫn, bền bỉ truyền nghề cho tất cả tám đứa con trai gái trong nhà, bất chấp bao khúc thăng trầm thế sự. "Hoàng thiên bất phụ hảo nhân tâm" - Ông trời chẳng phụ người có lòng, đến bây giờ, chẳng có gia đình thợ kim hoàn nào ở Hà Nội được như ông, cả tám người con đều đã phương trưởng và hiện đang làm chủ tám cửa hiệu kim hoàn lớn nhỏ trên các phố.
Ở tuổi ngoại tám mươi, nghệ nhân Nguyễn Văn Mẫn đã từ lâu rời xa chiếc bàn nghề xưa cũ. Nhưng lâu lâu, ông vẫn giữ thói quen đi lại thăm thú lần lượt các cửa hiệu vàng của tám người con. Ông thường đi bộ, nói là để rèn luyện cho khoẻ đôi chân. Nơi mà ông thường đến thăm nhiều nhất là cửa hiệu vàng mang tên Đức Hạnh, nằm trên phố Nguyễn Công Trứ, rất gần với khu chợ Thịnh Yên. Đó là cửa hiệu được khách nhất trong số tám cửa hiệu của gia đình. Mái tóc bạc phơ của nghệ nhân nghiêng ngiêng bên chiếc tủ hàng ngồn ngộn, lóng lánh, đỏ rực những dây chuyền, hoa hột, nhẫn vòng theo đủ các kiểu dáng cổ điển hay hiện đại. Đôi mắt già nua nhưng hãy còn khá tinh tường đang xem xét, phẩm bình chiếc lắc vàng mười vừa kịp rời ngọn lửa đèn nghề trong tay cậu thợ trẻ. Chỉ cần quan sát gương mặt của cha và độ giãn nở của đôi lông mày bạc trắng, là cô con gái yêu Nguyễn Thị Hạnh đã có thể hiểu được mức độ hoàn mỹ của một sản phẩm mới:
- Cha tôi rất nghiêm khắc, rất cẩn thận. Hàng vàng bạc quý giá lại cần được chế tác tỉ mỉ, tinh tế. Sai lệch tý ty thôi cụ cũng bắt làm lại. Kỳ bao giờ được như ý mới thôi. Khách hàng hài lòng là ở chỗ đó.
Tất cả các cửa hiệu kim hoàn của các con, ông đều chọn lấy chữ Đức đặt làm đầu. Đức Hạnh, Đức Thành, Đức Thịnh... ý là để khuyên nhủ các con giữ lấy chữ đức làm gốc là trước nhất. Bà chủ hiệu vàng Đức Thịnh và khách sạn Đức Thịnh trên phố Mai Hắc Đế chính là một trong số sáu cô con gái của nghệ nhân Nguyễn Văn Mẫn. Chị Nguyễn Thị Phương kinh doanh ổn định, chắc chắn, nhà cửa khang trang, đàng hoàng, con cái ngoan ngoãn, học hành tấn tới. Chị coi đó là nguồn hạnh phúc to lớn không dễ có. "Uống nước nhớ nguồn", mang nặng tấm lòng tri ân với cha mẹ, với quê hương, bản quán, với nghề tổ cha ông, chị thường không quên việc thăm nom, giúp đỡ gia đình, họ hàng và thường dành những khoản tiền đáng kể để đóng góp công đức cho các di tích văn hoa, lịch sử và các hoạt động nhân đạo xã hội. Ngay từ những năm chín mươi của thế kỷ trước, chị đã là một trong những người đầu tiên tham gia vào chương trình Địa chỉ cho những tấm lòng từ thiện của Đài phát thanh và truyền hình Hà Nội và là một trong những hội viên tích cực của Hội Tán trợ chữ thập đỏ phường Bùi Thị Xuân, quận Hai Bà Trưng. Mỗi năm, tuy không nhiều, nhưng gia đình chị cũng dành dăm ba triệu đồng cho các việc công đức, từ thiện. Noi gương mẹ, cô con gái đầu lòng đang học lớp 11 Trường trung học phổ thông Trần Phú của chị mỗi tháng cũng đã dành vài ba chục ngàn đồng tiền tiết kiệm để giúp đỡ bạn nghèo trong lớp mua sách vở.
Ngày đầu xuân năm mới, nơi mà bà chủ hiệu vàng Đức Thịnh chọn đến thăm và tặng quả từ thiện chính là nhà nuôi trẻ mô côi của quận Hai Bà Trưng, Mi ăn liền, bánh kẹo, sách vở và tiền mặt. Những món quà bé nhỏ nhưng thắm đượm nghĩa tình lá lành đùm lá rách. Bác sĩ Nguyễn Kim Chung, Phó chủ tịch Hội chữ thập đỏ Hà Nội luôn bày tỏ sự khuyến khích, động viên những gia đình như vậy:
- Cha mẹ làm việc từ thiện thường xuyên thì quá tốt rồi. Nhưng gieo mầm thiện cho cháu con theo được lâu bên mới là điều đáng quý. Ước sao thủ đô mình ngày một có thêm những gia đình thiện nguyện nhiệt tâm như thế.
Cuộc sống hằng ngày không phải bao giờ cũng dễ dàng, trôi chảy. Trong nhà, chồng bát cũng có khi xô. Nhưng cái chính là luôn phải giữ cho gia đình, và nhất là cho cha mẹ già một không khí nhẹ nhõm, thoải mái. Một bát cháo nóng, một ấm trà ngon, nhà nào mà không sẵn. Nhưng "miếng trầu không nặng, nặng hai tay bưng". Người con dâu của cụ Mẫn rất thấu hiểu điều này. Xưa kia, người Hà Nội từng có ấn tượng không hay với thành ngữ: "dân chợ Trời". Nhưng ở đâu cũng vậy, và thời nào cũng vậy, một nếp nhà vững chãi, luôn là chỗ dựa tinh thần cho tất thảy các thành viên trong gia đình. Càng trong những hoàn cảnh bất lợi, thì những phẩm chất tốt đẹp càng thêm tỏả rạng. Làm dâu trưởng trong một gia đình đông anh em chồng mà bao năm không hề có chuyện xô sát, điều tiếng ầm ĩ, phải chăng chỉ do từ một phía? Người con dâu cụ Mẫn là Nguyễn Thị Giới đã chia sẻ một cách giản dị:
- Tôi may mắn được làm dâu trong một gia đình nề nếp, các em cũng đều là người dễ dãi, biết điều, nên gia đình khi nào cũng giữ được bầu không khí thân mật và thoải mái. Chứ thật thà mà nói thì tôi cũng không được khéo léo đảm đang như nhiều người đầu.
Còn ông cụ bố chông thì lúc vắng mặt, vẫn khen cô con dâu:
- Chị ấy đã được ông bà nhạc dạy dỗ cẩn thận. Ăn ở cũng mộc mạc, chân tình. Bởi thế mà từ khi chị ấy về làm dâu cho đến nay đã hơn hai chục năm mà chưa hề phải nghe tôi và bà nhà tôi nói nặng một lời.
Giờ đây, chợ Hoa Bình đã khác xa chợ Trời xưa. Việc kinh doanh, buôn bán tự do, đường hoàng theo cơ chế kinh tế đổi mới đã khiến cho nếp giao tiếp, ứng xử của người dân nơi đây ngày một hòà đồng với cả xã hội. Vả lại, quan niệm chung của xã hội về nghề buôn bán, thương mại cũng không còn hẹp hòi và một chiều như trước. Gia đình nghệ nhân Nguyễn Văn Mẫn cũng là một trong số các gia đình gương mẫu đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa nhiều năm liên tục của khu vực dân cư phố Thịnh Yên.
Trong gian nhà được coi là gian nhà thờ của đại gia đình, nghệ nhân Nguyễn Văn Mẫn còn lưu giữ một chiếc cân tiểu ly nhà nghề khi xưa mà cụ hằng coi là một thứ kỷ vật giàu ý nghĩa. Dường như cụ muốn nhắc nhủ các cháu con hãy luôn giữ một tấm lòng ngay thẳng, trung thực trong nghề nghiệp cũng như trong giao tiếp, ứng xử hàng ngày. Chữ "Tín" trong nghề vàng bạc mới là chữ đáng coi trọng nhất.
Trong cửa hiệu nhà dưới, bà khách hàng quen người bên phố Huế đang ngắm nghía mấy mẫu kiềng vàng, lắc vàng tươi cười vui vẻ:
- Tôi buôn bán nhỏ. Cứ chắt bóp được ít tiền là lại ra hàng cụ mua một vài chỉ vàng cất đi dành dụm. Bây giờ lại mua của con trai con dâu cụ. Cân lượng đầy đủ chả bao giờ phải lo nghĩ. Hôm nay tôi đang định đặt bộ vòng kiềng với lắc tay để sang tháng cho con gái đi lấy chồng. Mấy mẫu đều đẹp, đâm ra hơi khó chọn,
Lứa cháu chắt của cụ giờ đây cũng không hoàn toàn theo nghề cha ông. Chúng cũng có những ước mơ mới và những sự lựa chọn mới. Những kỷ vật của ông bà, chúng có thể coi như là trong những câu chuyện cổ tích. Nhưng mà có rất nhiều thứ trong ngôi nhà này vẫn luôn hấp dẫn và thu hút chúng, cho tới tận mai sau. Phải chăng, đó cũng chính là những bảo vật vô hình mà có thể, còn quý giá hơn cả bạc vàng? Cô cháu ngoại của cụ Mẫn tên là Nguyễn Thị Ngọc Hà, hiện đang là sinh viên trường Đại học khoa học xã hội nhân văn thỏ thẻ tâm sự:
- Từ khi cháu còn nhỏ vẫn thường thích sang chơi bên ông ngoại, nghe ông đọc Truyện Kiều, nghe ông kể chuyện quê hương với nghề chạm bạc mà ông và các cậu các di, các bác trong nhà theo đuổi. Cả những câu chuyện về đường ăn ý ở của người con gái trong gia đình phải như thế nào? Cháu rất yêu kính ông bà.
Ngày mồng chín tháng Giêng hàng năm là một trong nhưng ngày mà lão nghệ nhân Nguyễn Văn Mẫn hằng mong mỏi nhất. Ấy chính là ngày hội của làng Thịnh Yên, ngày hội chùa Vua. Vào ngày này, dù không lời hẹn trước, các thế hệ trong gia đình nghệ nhân đều tụ hội về bên người ngôi nhà cha mẹ. Bao giờ cũng vậy, lão nghệ nhân sẽ dẫn đầu cả một đoàn con cháu quần trắng áo dài rực rỡ, complett cavat thịnh soạn sang chùa lễ Phật và xem đấu cờ người, một trò vui đặc biệt của hội làng Thịnh Yên. Tiếng trống hội thì thùng lắc cắc sao mà thân thiết và thiêng liêng và ấm lòng đến vậy.
Cuộc cờ người thu quân, cha con lại cùng nhau trở về gian nhà thờ trên căn gác hai, làm lễ kính cáo tổ tiên. Trong làn khói hương trầm nồng ấm, thêm một lần niềm tự hào của nghề tổ được nhắc nhớ, thêm một lần tình gia tộc được thắt chặt. Thiêng liêng và bình dị biết bao. Bên ngoài khung cửa, trên dãy phố Thịnh Yên, một mùa lộc biếc lại dâng đầy trên những cây cơm nguội gốc xù xì sẵm màu năm tháng.
Nội dung bài viết đến đây xin được tạm dừng, thân mến chào tạm biệt quý vị!

Hành trình đi tìm ngọc
“Hành trình đi tìm ngọc” là nội dung bài viết của tác giả, nhà báo Vũ Thị Tuyết Nhung, trân trọng kính mời quý vị cùng lắng nghe bài viết.
Bài viết:
Hàng trăm câu ca dao, ngạn ngữ được tập hợp trong hai cuốn sách đã trở thành bộ tư liệu quý giá cho việc nghiên cứu và tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển hàng ngàn năm của đất nước và con người Hà Nội. Chúng tỏ ra vô cùng hữu ích cho công tác nghiên cứu và giảng dạy văn học, lịch sử, địa lý và các bộ môn khoa học xã hội và nhân văn của giáo viên và học sinh các cấp, đặc biệt là ở bậc đại học. Tuy nhiên, bao năm chiến tranh, giặc giã, các điều kiện nghiên cứu, sưu tầm tập hợp còn rất sơ sài, thiếu thốn. Bởi vậy chúng ta khó có thể đòi hỏi một kết quả khả dĩ hơn.
Thạc sĩ Nguyễn Thị Phương Châm vốn không phải là người gốc Hà Nội. Chị sinh ra và lớn lên trên một miền quê thuộc xứ Kinh Bắc xưa. Duyên may đưa chị đến với công trình nghiên cứu về phong cảnh Hà Nội qua những câu ca dao ngạn ngữ có lẽ bắt đầu từ cách đây gần chục năm, khi chị đạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi văn toàn quốc cấp phổ thông trung học. Đề bài là bình giảng câu ca dao: Gió đưa cành trúc la đà / Tiếng chuông Trấn võ, canh gà Thọ Xương / Mịt mù khói tỏả cành sương / Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.
Sau này, khi trở thành một cán bộ nghiên cứu khoa học ở Viện Văn hóa dân gian, chị đã dành nhiều tâm sức cho công trình nghiên cứu ca dao ngạn ngữ Hà Nội về đề tài phong cảnh, con người Hà Nội. Và chính bằng công trình ấy, chị đã được trường đại học khoa học xã hội và nhân văn quốc gia chọn mời thỉnh giảng thường kỳ hàng năm cho sinh viên ở bộ môn văn hóa cơ sở. Càng say mê theo đuổi công trình, chị càng phát hiện thêm những vẻ đẹp khôn cùng của ca dao ngạn ngữ Hà Nội. Đâu chỉ là phong cảnh thiên nhiên hữu tình, danh lam thắng tích đậm đặc, cổ kính, thiêng liêng mà còn là tình người Hà Nội thiết tha, nồng đượm: Sông Tô nước chảy trong ngần / Có con thuyền trắng chạy gần chạy xa / Thon thon đôi mái chèo hoa / Lướt qua lướt lại như là bướm gieo.
Nhà thơ, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Chu Hà đã bước vào tuổi xấp xỉ chín mươi. Lưng ông còng còng, trĩu nặng gánh thời gian song xem ra dáng đi còn mau mắn, nhanh nhẹn, đôi mắt tinh anh, hiền từ. Ông là người gốc Ý Yên, Nam Định nhưng sinh sống ở Hà Nội đã gần sáu mươi năm, nhà ở phố Hàng Bột cũ nay là phố Tôn Đức Thắng. Nhà thơ Chu Hà là cán bộ cựu trào của ngành văn hóa thông tin Hà Nội. Lãnh vực nghiên cứu mà ông chuyên sâu và dày công nhất chính là hát ca trù - hát ả đào. Bao câu hát ca trù đẹp như những áng thơ đã được ông sưu tầm, ghi chép và truyền lại cho lớp trẻ. Nhưng công trình mà ông tâm đắc nhất là ông đã cùng nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Vũ Tuấn Sán, người làng Lủ, thuộc xã Đại Kim, huyện Thanh Trì và hai nhà giáo là Phạm Hòa (trường phổ thông trung học Việt Đức) và Triêu Dương (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1) cùng tham gia sưu tầm và soạn thảo hai tập Ca dao ngạn ngữ Hà Nội, từ những năm sáu mươi, bẩy mươi của thế kỷ trước.
Phạm vi đề cập của hai cuốn sách đó thật rộng lớn. Nào là ca dao ngạn ngữ về đề tài lịch sử, văn hóa danh lam, thắng cảnh, di tích, sản vật, con người, nghề nghiệp, phong tục, tập quán, lễ hội, phong cách ứng xử gia đình, xã hội... Hàng trăm câu ca dao, ngạn ngữ được tập hợp trong hai cuốn sách đã trở thành bộ tư liệu quý giá cho việc nghiên cứu và tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển hàng ngàn năm của đất nước và con người Hà Nội. Chúng tỏ ra vô cùng hữu ích cho công tác nghiên cứu và giảng dạy văn học, lịch sử, địa lý và các bộ môn khoa học xã hội và nhân văn của giáo viên và học sinh các cấp, đặc biệt là ở bậc đại học. Tuy nhiên, bao năm chiến tranh, giặc giã, các điều kiện nghiên cứu, sưu tâm tập hợp còn rất sơ sài, thiếu thốn. Bởi vậy chúng ta khó có thể đòi hỏi một kết quả khả di hơn. Bây giờ, nói sao thì nói, đã ở tuổi gần đất, xa trời, nhà thơ Chu Hà không khỏi có những điều thật ngậm ngùi, tiếc nuối:
- Hồi Mỹ đánh bom Hà Nội. Nhà ngày ấy chẳng có gì gọi là đáng giá. Chỉ có tập vở tôi ghi chép những câu ca dao, ngạn ngữ mới sưu tầm được là tôi quý nhất. Liền cho vào cái két sắt cũ của nhà chủ ngày xưa để lại, khóa chặt. Nghĩ thế là chắc chắn nhất.
Không ngờ, sau một đợt đi công tác trở về, lấy ra soạn lại, thì mỗi đã xông mất hết. Tiếc đến bây giờ vẫn chưa nguôi…
Bao điều trăn trở, nhưng ở tuổi xấp xỉ cửu tuần, ông không thể còn xoay xỏa nổi. Nhưng thật may, kế tiếp sự nghiệp của các bậc lão làng, có một người không kém phần tâm huyết. Đó chính là nhà thơ, nhà báo Giang Quân. Ở độ tuổi ngót nghét tám mươi, tóc cũng đã bạc phơ phơ, ông cũng vốn là một cán bộ cựu trào sau lớp cụ Chu Hà của Sở văn hóa thông tin Hà Nội.
![]() |
| Thủ đô Hà Nội xưa |
Ông tham gia nghiên cứu, gắn bó với ca dao, ngạn ngữ Hà Nội đã trên nửa thế kỷ. Hai cuốn sách của các bậc tiền bối đã là cơ cở vững chãi để ông tiếp tục nghiên cứu, sưu tầm. Bởi kho tàng ca dao, ngạn ngữ của vùng đất đế kinh ngàn năm này thật vô cùng phong phú và giàu đẹp... Biết bao điều còn ẩn chứa trong nhân gian rộng lớn. Cho đến năm tròn tuổi thất thập, ông mới cho công bố một cuốn sách là kết qủa của trên nửa thế kỷ đằng đẳng miệt mài. Cuốn Hà Nội trong ca dao ngạn ngữ bao gồm 500 câu, như tên gọi của nó, chỉ khuôn đề tài vào một lĩnh vực hẹp hơn, song chính là tập trung hơn, khu biệt hơn và nổi rõ đặc trưng Hà Nội hơn.
Phong cảnh, địa danh, con người, sản vật, nghề nghiệp, lễ hội của vùng đất ngàn năm văn hiến. Nhưng có một phần được bổ sung và chỉnh lý cũng như chú giải kỹ lưỡng hơn. Đặc biệt có tập hợp thêm các câu ca dao ngạn ngữ mới của thời kỳ cận đại và hiện đại của Hà Nội. Một thời gian dài, nhà thơ, nhà báo Giang Quân lại đang tiếp tục sưu tầm, tập hợp thêm trên hai trăm câu ca dao, ngạn ngữ của các vùng nội ngoại thành Hà Nội cho việc tái bản cuốn sách vào năm 2002. Ông coi đây là một công trình không của riêng mình hướng tới dịp kỷ niệm ngàn năm Thăng Long - Hà Nội.
Trong mấy năm rong ruổi khắp các vùng nội ngoại thành, niềm vui lớn nhất của ông là phát hiện được thêm những câu ca dao, ngạn ngữ bao năm còn ẩn dấu trong dân gian, chưa hề được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng. Bên cạnh đó là hàng trăm dị bản của các câu ca dao, ngạn ngữ của từng miền quê theo những mô tuýp biến thể cổ truyền. Chuyến về thăm vùng bưởi Diễn cách đây không lâu là một trong những chuyến đi may mắn của ông. Sau đây là mấy câu ca dao, hay chính là những viên ngọc quý mà ông vừa thu lượm trong chuyến đi ấy. Chợ Diễn một tháng sáu phiên / Bưởi vàng trái ngọt ai quên nhớ về.
Và điều tâm đắc nhất của ông là đã sưu tầm được những câu ca dao Hà Nội thời cận đại. Trong đó có những câu ông sưu tầm được chính ở dãy phố Khâm Thiên nơi mà gia đình ông cư trú từ sau ngày giải phóng thủ đô. Nguyên trước cách mạng Tháng Tám năm 45, Khâm Thiên vẫn còn là một phố cô đầu, nhà hát "lừng danh". Dân ăn chơi đất Hà Thành gen gọi là phố "Chị em". Hôm gặp lại nhà thơ Chu Hà, ông đã tủm tỉm đọc cho người đàn anh nghe mấy câu: Tối thì đẹp tựa tiên sa / Ngày nom rũ rượi như gà mắc mưa / Báu gì hương chạ hoa thừa / Thà rằng chẵn lẻ Hai Cua cho rồi.
Và ông nói rằng, thoạt đầu không hiểu chữ Hai Cua là gì. Hỏi ra sau mới biết rằng đó chính là một sòng bạc cũng vào loại "ác chiến" ở phố Khâm Thiên ngày trước. Bên ẩm trà Tàu đặc sánh, câu chuyện của hai bậc lão làng tưởng như khó có chỗ dứt.
Tóc xoã ngang vai xanh mướt, ở tuổi vừa tròn tam thập, may mắn hơn các bậc tiền bối của mình, thạc sĩ Nguyễn Phương Châm bước sang năm đầu thế kỷ mới, đã gấp rút chuẩn bị tài liệu cho luận văn nghiên cứu sinh học vị tiến sĩ cũng xung quanh đề tài Văn hóa tộc người Việt sinh sống trên đất nước Trung Hoa. Nhưng song song cùng với bản luận văn, sẽ vẫn là những bài giảng trên lớp cho sinh viên Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn về đề tài ca dao ngạn ngữ phong cảnh của Hà Nội. Có người từng thắc mắc trên sóng Đài phát thanh - truyền hình Hà Nội rằng: "Sao lại đọc lầm chữ đền thành chữ chùa trong một câu ca dao cũ": Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ / Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn.
Thực ra là không lầm đâu! Trong bài giảng sắp tới, cô sẽ chú thích rõ hơn xuất xứ của câu ca dao là từ thời Lê Trịnh. Khi ấy đền Ngọc Sơn vốn còn đang là một ngôi chùa thờ Phật quanh năm nghi ngút khói hương.
Cũng bắt đầu từ thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI, khi internet phát triển và bắt đầu từ thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, khi mạng xã hội mở rộng thì đó chính là cơ hội tốt đẹp để nở rộ việc phát lộ và thu thập ca dao, tục ngữ thành ngữ ở các địa phương, kể cả ở các vùng đất thuộc xứ Đoài, Hà Tây xa xôi khi được sáp nhập về Hà Nội. Nhanh nhậy bắt nhịp với nhu cầu tất yếu của thời đại, dăm năm trước, Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội do GS - TS Lê Hồng Lý, Chủ tịch Hội và PGS - TS Đỗ Thị Hảo, Phó Chủ tịch Hội kiêm chủ nhiệm đề tài đã đề xuất với Thành phố Hà Nội mở một dự án sưu tầm ca dao tục ngữ mới. Dự án tuy chưa kết thúc nhưng đã thu được những thành quả ban đầu tốt đẹp, thu thập được hàng ngàn câu ca dao tục ngữ ở các địa phương vùng Hà Nội cũ và Hà Nội mở rộng.
Có những câu ca dao xưa chỉ được lưu truyền trong địa vực làng xã bé nhỏ nay đã được đông đảo người dân trong và ngoài nước biết đến. Đơn cử như bài ca dao ca tụng sự chăm chỉ và tài khéo người dân làng nghề bánh gai Yên Sở thuộc vùng kẻ Giá, huyện Hoài Đức: Bánh gai làng Giá thơm ngon / Con gái làng Giá tươi giòn sắc xuân / Giã lá, xay bột chuyên cần / Khéo tay gói bánh người ăn tìm về.
Hay là mấy câu ca dao ở làng bánh gio Đắc Sở cũng thuộc vùng kẻ Giá bên dòng sông Đáy nói về một phẩm chất của đặc sản nổi danh của làng quê: Bánh gio trong hổ phách / Dẫu có đắt cũng mua / Bánh gio màu nước dưa / Dẫu có cho chả đắt.
Một câu ca dao khác của làng nghề bánh dày Quán Gánh, huyện Thường Tín ca tụng giá trị của đặc sản quê hương bằng giải pháp khoa trương đôi khi gặp trong ca dao tục ngữ: Cho dù chồng chán vợ chê / Bánh dày Quán Gánh lại về với nhau.
Nhà thơ Yên Giang vốn là Trưởng phòng Phòng Sáng tác và xuất bản Sở Văn hóa thông tin Hà Tầy và đã từng chủ biên cuốn sách Ca dao tục ngữ Hà Tây dày tới 700 trang. Sau khi Hà Tây sáp nhập vào Hà Nội, tham gia vào Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội, ông là người rất tích cực và bền bỉ tham gia dự án sưu tầm tục ngữ ca dao mới của Hội văn nghệ dân gian Hà Nội với hàng trăm câu.
Nét đặc biệt trong bộ sưu tập của ông là những câu ca dao tục ngữ mới về để tài phản biện xã hội. Ông rất tâm đắc với quan niệm của người xưa:
Ngày xưa đức Khổng Tử bên Trung Hoa từng khuyên các đấng quân vương nên cử người thâm nhập vào đời sống của người dân mà thu thập những câu ca dao ngạn ngữ, những câu chuyện tiếu lâm có tính giều cợt, chống đối thể chế để từ đó nghiên cứu, phân loại ý kiến đúng sai, rồi nương theo mà sửa đổi chính sách cai trị sao cho hợp lòng dân, cũng là vì sự thịnh trị lâu dài của xã tắc.
Hơn hai mươi năm sau, cô sinh viên cao học Nguyễn Thị Phương Châm ngày nào nay đã trở thành PGS - TS Nguyễn Thị Phương Châm và đã được bổ nhiệm cương vị Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hóa thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Thật mừng cho Phương Châm nhưng cũng hơi có chút ngậm ngùi khi nghe cô nói lâu rồi không còn giảng dạy hay nghiên cứu đề tài ca dao tục ngữ nói chung và ca dao tục ngữ Hà Nội nói riêng nữa.
Thế gian bao năm biến cải, đổi dời. Chẳng còn đâu nữa bóng dáng những bến trúc Nghi Tàm, rừng bàng Yên Thái, chợ đêm Khán Xuân, sâm cầm hồ Tây... Bao giờ cho nước sông Tô trở lại trong ngần? Nhưng nỗi ao ước của cô giáo trẻ người gốc Kinh Bắc một ngày xa xưa ấy, phải chăng cũng chính là nỗi mong ước đau đáu trong lòng mỗi người dân thủ đô trong hiện tại?
Mong sao các nhà quy hoạch, kiến trúc xây dựng thủ đô dù có kiến thiết, sửa sang, tôn tạo thành phố cho hiện đại, mới mẻ đến như thế nào cũng vẫn nên giữ lại những dáng nét kiến trúc và phong cảnh đặc sắc của đất Kinh kỳ Thăng Long, cho xứng danh là nơi mãi mãi "Lắng hồn núi sông ngàn năm".
Nội dung bài viết đến đây xin được tạm dừng, cảm ơn quý vị đã dành thời gian lắng nghe. Thân ái chào tạm biệt quý vị và các bạn!

Thợ vàng Hàng Bạc
“Thợ vàng Hàng Bạc” là nhan đề bài viết của tác giả, nhà báo Vũ Thị Tuyết Nhung, xin được gửi đến quý vị cùng theo dõi và lắng nghe.
Bài viết:
Bây giờ khách tới tham quan phố Hàng Bạc chủ yếu thấy các cửa hàng buôn bán vàng bạc và các trụ sở công ty du lịch nhỏ. Nhưng vài ba mươi năm trở về trước, phố chủ yếu là những cửa hàng cửa hiệu kiêm xưởng thợ kim hoàn nhỏ.
Nghề kim hoàn Việt Nam được phân ra ba chuyên ngành truyền thống theo ba dạng thức chế biến sản phẩm. Đó là hàng trơn, hàng chạm và hàng đậu. Ở phố Hàng Bạc, người gốc Châu Khê Hải Dương chuyên làm hàng trơn. Người gốc Đồng Xâm, Thái Bình chuyên làm hàng chạm. Còn người gốc Định Công, Hà Nội chuyên làm hàng đậu.
Những người thợ gốc Châu Khê
So với những cửa hiệu kim hoàn trên phố Hàng Bạc, thì hiệu vàng Kim Thịnh ở số nhà số 43 thật quá đỗi bé nhỏ, sơ sài. Bởi vì nhà ông bà Dậu, chủ cửa hiệu, không kinh doanh mà chỉ gia công, sửa chữa đồ trang sức vàng bạc. Kinh doanh buôn bán thì thuế cao, vợ chồng già không đương nổi, đành cọc cạch hàng ngày kiếm đủ tiền chi dùng cho gia đình. Thế cũng đã là khá. Nhưng ngẫm lại, cũng có lúc chạnh buồn. Bởi vì ông Dậu chính là người thợ kim hoàn cao tuổi nhất trên phố Hàng Bạc còn đang theo đuổi nghề gia truyền. Ấy là cái nghiệp mà cả hai vợ chồng ông bà, cũng như hàng trăm gia đình dân phố Hàng Bạc, gốc làng Châu Khê, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương theo đuổi từ khi còn nhỏ. Ở tuổi ngót nghét bẩy mươi, với hơn nửa thế kỷ làm nghề, đã có biết bao nhiêu chiếc vòng xuyến, hoa hột từng qua đôi bàn tay ông mà thành hình. Thế mà vào cái thời bao cấp khó khăn, ngặt nghèo, đã có năm ông bà Dậu phải chuyển nghề làm ăn, mới đủ sinh sống. Bộ đồ nghề gia truyền, ông phải dấu diếm mãi mới còn giữ lại được, chứ hễ lộ ra ngày ấy, thì bị bắt phạt khốn khổ chứ chả chơi. Từ năm 1990, trong cơ chế kinh tế mở cửa, ông bà mới nhúc nhắc mở lại cửa hiệu con con này. Nhưng bây giờ, tóc ông thợ đã bạc trắng, đôi mắt đã kém phần tinh tường. Nhìn dáng ông còng còng ngồi bên ngọn lửa đèn nghề xanh lét, bà thương lắm.
Kém ông Dậu chừng mươi tuổi, ở nhà số 10 đầu phố Hàng Bạc, dưới tên biển hiệu Tân Dung, ông Tân cũng đã có ngót nửa thế kỷ theo nghề. Ông cùng là người họ Phạm và cùng là đồng hương Châu Khê với ông Dậu. Dòng họ Phạm là một dòng họ lớn ở Châu Khê. Các bậc tiền nhân của dòng họ xa xưa đã từng lên kinh đô làm nghề đúc bạc cho ngân khố quốc gia, tương truyền từ thời Lý.
Đến thời Lê, phố Hàng Bạc đã được nhắc đến là một trong 36 phố phường sầm uất nhất của kinh thành Thăng Long - Đông Kinh, với trung tâm là kho đúc bạc của nhà vua ở di tích đình Hàng Bạc hiện thời, tại số nhà 42, cùng hàng loạt các cửa hiệu đổi bạc kế bên, tiền thân của những hiệu kim hoàn sau này.
Bao đời nay, thế giới của những người thợ vàng dường như vẫn chỉ gói gọn trong một ô đất nhỏ chưa đầy một thước vuông. Chiếc bàn gỗ cóc gặm, những thứ đồ lề cũ kỹ, lắm cái đã mòn vẹt, nhuốm màu thời gian. Sản phẩm làm ra từ đôi bàn tay họ cũng bé nhỏ, nhẹ cân nhưng thật đắt giá, có khi là cả khối tài sản chắt chiu một đời người hay có thể là một kỷ vật lưu niệm vô giá.
Để theo đuổi được một cái nghề suốt đời sống bên vàng ròng, bạc chảy, bài học khai tâm từ thuở chập chững vào nghề đến khi tóc ngả màu sương, ông Tân vẫn khắc ghi trong tâm khảm. Ấy chính là bài học chỉ một chữ, chữ Tín. Có một đồng nghiệp trẻ của chúng tôi đã viết rất kỹ về một người thợ kim hoàn đặc biệt của phố Hàng Bạc trên báo VNExpress:
"Từ nhiều năm qua, tọa tại số 83 Hàng Bạc là căn nhà nhỏ sâu hun hút, giữa các cửa hàng khác với biển hiệu sáng trưng và sầm uất. Hầu như những vị khách lần đầu ghé chân đều thấy ngạc nhiên, bởi nó như chứa đựng một Hà Nội xưa cũ. Đó là cửa hàng chế tác trang sức truyền thống của gia đình ông Nguyễn Chí Thành, 71 tuổi.
![]() |
Ông Nguyễn Chí Thành bên bàn làm việc của mình. Ảnh: Ngân Dương. |
Tiếng búa lục đục, tiếng mài kim loại ken két lẫn với tiếng nhạc xưa là những thanh âm quen thuộc ngày ngày phát ra tại cửa hàng của ông Thành. Đôi mắt chăm chú nhìn vào miếng vàng trắng nguyên bản, môi mím chặt, ông dùng thanh kim loại dài tỉ mần khắc từng chi tiết.
Trước mặt người thợ thủ công ấy treo một bóng đèn tròn, bên ngoài là nửa vỏ lon bia ông tự chế thành chụp đèn. Những vỏ lon bia là hộp đựng, cái bát sứt để chứa những đồ vụn vặt... Hầu hết đồ dùng được truyền từ đời này sang đời kia, các vật dụng hoen rỉ đã nhuốm màu thời gian. Chiếc bàn làm việc của ông chẳng khác gì một tác phẩm nghệ thuật sắp đặt".
Hồng Châu vang bóng một thời
Bà Phạm Thị Lộc ở nhà 34 phố Hàng Bạc giờ đây có thể được coi là người phụ nữ cao tuổi nhất còn giữ nghề, nhưng ở một vị thế khác. Học nghề gia truyền từ năm 13 tuổi, với thâm niên trên 60 năm làm hàng, hiện nay, bà vẫn đương nhiệm chức chủ tịch hội mỹ nghệ kim hoàn Việt Nam. Bà đã có gần 40 năm làm nhân viên rồi làm chủ nhiệm hợp tác xã mỹ nghệ kim hoàn Hồng Châu, thuộc quận Hoàn Kiếm. Vào những năm sáu mươi của thế kỷ trước, nhà nước tiến hành quản lý chặt chẽ việc kinh doanh, chế tác vàng bạc đá quý và đưa thợ thủ công mỹ nghệ vào cơ chế sản xuất tập thể.
Thế là hơn một trăm người thợ kim hoàn giỏi nghề ở Hà Nội, chủ yếu là thợ Hàng Bạc đã được trưng tập vào hợp tác xã Hồng Châu, số khác vào công ty mỹ nghệ kim hoàn Hà Nội.
Trải hơn ba mươi năm trời, lớp thợ đầu đàn hầu hết đã ở vào tuổi xưa nay hiếm. Người thì đã khuất núi, người thì về quê dưỡng lão, người trở lại phố cũ mở cửa hàng riêng. Đến nay, thực sự chỉ còn hơn hai mươi xã viên còn gắn kết với Hồng Châu (thời điểm năm trước sau năm 2000). Có thể cả vì hai lẽ. Trước nhất vì tình yêu nghề tha thiết, sau cũng là vì kế sinh nhai hàng ngày. Thợ kim hoàn tự xưa, nếu không thật giàu có, cũng chẳng thể nghèo nàn thiếu thốn.
Trong gian nhà xưởng đơn sơ, xập xệ ở giữa phố Hàng Bồ kế bên phố Hàng Bạc, những gương mặt khắc khổ vẫn chăm chú, kiên nhẫn, lặng lẽ cúi sát bên những khuôn bàn cũ kỹ. Người dũa, người mài, người cưa, người chuốt... Tất thảy họ như đang bình thản bỏ ngoài tai bao nhiêu âm thanh sôi động của phố phường Hà Nội những tháng ngày đã sang thế kỷ mới. Và dưới những đôi tay thợ Hồng Châu, bao vẻ đẹp của bạc vàng, châu báu trên đời vẫn đang hé lộ, long lanh, chói sáng.
Đã bao năm, sản phẩm của người thợ Hồng Châu từng nức tiếng trong và ngoài nước, nhất là trên thị trường Đông Âu. Giờ đây, dù trong thời buổi cạnh tranh quyết liệt, người thợ Hồng Châu vẫn luôn đặt hai chữ danh dự và uy tín lên hàng đầu. Những khách hàng kỹ kén ở Hà Nội vẫn tìm đến với Hồng Châu, chính là vì nhẽ ấy.
Bây giờ, ở hợp tác xã Hồng Châu, nghệ nhân lão làng Phạm Thị Lộc và lớp thợ nghề cao tuổi lại đang đặt hy vọng vào người thợ trẻ nhất. Anh Nguyễn Anh Tuấn mê nghề kim hoàn của gia đình từ thuở còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông. Mười tám tuổi chính thức vào nghề ở hợp tác xã, giờ đây, anh đã có thâm niên hơn chục tuổi nghề. Theo lớp cha anh đi trước, anh đã gắn bó với Hồng Châu trong thời kỳ gian khó nhất mà không hề nhụt chí. Tâm nguyện của anh Tuấn cũng như tâm nguyện của những người thợ kim hoàn Hàng Bạc hôm nay, giản đơn nhưng thiết thực, gần gũi với cuộc sống đời thường. Anh ước mong được học thêm những kỹ thuật chế tác vàng bạc của thợ kim hoàn nước ngoài, và mong mỏi ngành kim hoàn Hà Nội sớm đầu tư một dây chuyền sản xuất đồ mỹ nghệ kim hoàn hiện đại, hợp thị hiếu và sở thích của khách hàng trong và ngoài nước.
Dầu cũ nghề xưa còn mất?
Nghề kim hoàn Việt Nam được phân ra ba chuyên ngành truyền thống theo ba dạng thức chế biến sản phẩm. Đó là hàng trơn, hàng chạm và hàng đậu. Ở phố Hàng Bạc, người gốc Châu Khê Hải Dương chuyên làm hàng trơn. Người gốc Đồng Xâm, Thái Bình chuyên làm hàng chạm. Còn người gốc Định Công, Hà Nội chuyên làm hàng đậu.
Làm hàng trơn đơn giản nhất, như thể đánh nhẫn, đánh khuyên tai hay vòng tay, vòng cổ... theo lối cũ.
Làm hàng chạm là đặt lá vàng lá bạc hay vật dụng cốc chén bình lọ lên một khối xi dẻo rồi áp mẫu hoa văn vào mà chạm theo các đường nét. Sau đó, gỡ tấm vàng bạc hoặc các vật dụng kể trên khỏi khối xi dẻo đem đi đánh bóng, hoàn thiện.
Làm hàng đậu tức có nghĩa là người thợ chuốt hoặc kéo cho vàng bạc thành những sợi dài nhỏ như sợi tóc, rồi dùng các dụng cụ chuyên dụng để uốn các sợi vàng bạc ấy theo các hình hoa lá, chim muông sống động. Rất kỳ công.
Thời trước, ở phố Hàng Bạc và ở hợp tác xã Hồng Châu, ngoài thợ gốc Châu Khê chiếm số đông, còn một số thợ gốc Đồng Xâm và Định Công. Những năm cuối thập niên chín mươi của thế kỷ trước, cả phố Hàng Bạc chỉ còn đôi ba gia đình người góc Đồng Sảm ở dây bên số chẵn sinh sống, song cũng không còn làm nghề nữa
Cửa hàng kim hoàn Thu Hồng ở số nhà 149 Hàng Bạc bây giờ do cô con dâu ông thợ Định Công Nguyễn Hữu Chỉnh, một người thợ lão làng trong nghề đậu trông nom. Như nhiều người thợ ở tuổi mắt mờ, chân chậm, cụ Chỉnh đã thôi nghề, về quê nghỉ dưỡng lão từ lâu.
Bây giờ, cả làng Định Công cũng chỉ còn dăm bẩy hộ gia đình còn gọ gằng theo nghề Tổ. Chủ yếu là mấy gia đình anh em người họ Quách với hai nghệ nhân nổi danh là Quách Văn Trường và Quách Văn Hiểu. Hàng hóa được gửi bán trên phố Hàng Bạc và trên các cửa hàng thủ công mỹ nghệ rải rác trên các phố trung tâm.
Việc sản xuất nghe cầm chừng, kém sôi động, khác với thời dân làng nô nức làm hàng gia công xuất khẩu theo đơn đặt hàng của công ty mỹ nghệ xuất khẩu trung ương.
Nhìn những cánh bướm, bông hoa, vòng tay, kiềng cổ, vô cùng tinh xảo, mỹ lệ của người thợ Định Công, ai đó cứ thắc mắc hoài không hiểu tại sao mà hàng hóá lại có thể chậm lưu thông đến vậy? Hay là tại đầu ra chưa được khơi thông rộng rãi. Mà chuyện đó, đôi khi nằm ngoài tầm tay của những người thợ.
Dầu không còn coi đây là một nghề kiếm sống chủ yếu, song những người thợ khéo Định Công vẫn tận tâm lựu giữ nghề truyền thống độc đáo của cha ông. Phương ngôn cổ Hà Nội từng có câu: Thợ vàng Định Công, thợ đồng Ngũ Xã. Và họ vẫn mong ước, đến một ngày nào đó, nhờ phương thức xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ được đổi mới, sản phẩm của làng nghề sẽ lại cất cánh vươn xa.
Phố Hàng Bạc trong thời kinh tế mở cửa và hội nhập đã thực sự hồi sinh và phát triển, song chủ yếu chỉ là trên phương diện kinh doanh, buôn bán, trao đổi. Nhà cửa chật chội, tiền công lao động thấp, việc sản xuất, chế tác đương nhiên bị thu hẹp. Tuy nhiên, người trên phố vẫn sử dụng nguồn hàng hóa sản xuất từ các làng nghề truyền thống quê hương. Bên cạnh đó là vô vàn những mặt hàng từ miền Nam chuyển ra hay từ nước ngoài nhập về. Khách nước ngoài tìm đến mua đồ trang sức và lưu niệm trên phố ngày nào cũng hàng trăm người có lẻ.
Cũng ở tuổi thất thập, ông Nguyễn Danh Tú, chủ hiệu kim hoàn Phúc Thành, một cửa hiệu kinh doanh vào loại lớn trên phố Hàng Bạc, nay đã có thể yên tâm nghỉ ngơi. Ngọn lửa đèn nghề trao lại cho hai đứa con một trai, một gái. Nhưng việc kinh doanh bây giờ dễ hơn xưa mà cũng có phần khó hơn xưa. Ngoài việc nắm được những ngón nghề gia truyền, người thợ kim hoàn thời nay lại không thể không học hỏi thêm các mẫu mã sản phẩm hiện đại của nước ngoài và ngay của những người thợ trong Nam. Duy chỉ có bí quyết giữ chữ Tín trong làm ăn, kinh doanh là thời nào cũng vẫn phải đặt lên hàng đầu.
Phố Hàng Bạc sang thế kỷ XXI đã có nhiều đổi khác. Hàng chục trụ sở công ty du lịch lữ hành đan xen bên những cửa hàng bán đồ lưu niệm cho khách du lịch và những cửa hàng vàng bạc nay đã được sửa sang cho sáng sủa rực rỡ hơn.
Rời dãy phố Hàng Bạc, có lẽ ai đó sẽ lưu lại trong tâm trí một hình ảnh rất đặc biệt. Trong cửa hiệu kim hoàn nào cũng có một tấm gương thật lớn. Trước mặt người thợ kim hoàn nào cũng có một ngọn đèn thật sáng. Và ngọn lửa nghề nhỏ bé vẫn luôn luôn rực cháy khôn nguôi.
Nội dung bài viết đến đây xin được tạm dừng, cảm ơn quý vị đã dành thời gian lắng nghe. Thân ái chào tạm biệt quý vị và các bạn!

Đào nương ca trù Bạch Vân
“Đào nương ca trù Bạch Vân” - là nhan đề bài Podcast hôm nay, bài viết của tác giả - Nhà báo Vũ Thị Tuyết Nhung. Kính mời quý vị cùng lắng nghe.
Bài viết:
Nàng mở chiếc gương soi dặm lại chút phấn hồng trên đôi má không còn nét bầu bĩnh thơ ngây thuở ban đầu song hãy còn lưu lại đôi nét xuân sắc một thời. Ngắt thêm nhành hoa ngâu bên sân chùa gài lên vành khăn tròn trịa, nàng vẫn không giấu được vẻ hồi hộp trước giờ phút lên chiếu ca trù biểu diễn. Trong nỗi hân hoan chia sẻ cùng các đồng nghiệp diễn viên trẻ tuổi của nghệ thuật quan họ, hình như có thoáng một chút âu lo trên gương mặt nghệ sĩ ca trừ. Liệu bà con sẽ đón đợi tiếng hát ca trù của mình ra sao đây?
Trung tuần tháng Chín âm lịch, chùa Phúc Lâm bên kia sông Đuống vào đám giỗ Tổ. Mới sáng sớm, cảnh chùa đã tấp nập, rộn rã. Khách gần khách xa ai ai vừa đến cổng chùa đều đã được bà con dân thôn đón tiếp ân cần, nồng nhiệt. Lẫn trong số đông, những người khách này cũng không có gì khác biệt nếu như họ không mang theo những thứ hành trang lỉnh kỉnh này. Thật là đủ đầy đàn ca sáo nhị nhé.
Ô thì làng vào đám mà, trai thanh gái lịch đàn ca hát xướng càng đồng thì càng vui chứ sao. Nhưng khi lũ trống đàn khăn áo đang còn nguyên trong bao gói, chúng vẫn chỉ như những đám hành lý cồng kềnh, lỉnh kỉnh mang nặng trên vai người.
Kể thì ở chốn thôn quê khuất nẻo này, khó có ai đã dễ nhận ra ngay gương mặt và tên tuổi của chị, kể cả là khi chị đã bắt đầu thay đổi phục trang chờ đến giờ biểu diễn. Chiếc khăn vấn nhung như đã có đôi nốt bạc tuyết. Tấm áo lụa tơ tằm như cũng đã chớm phai màu.
Gương giếng chùa có lẽ cũng chẳng có thể làm trẻ hơn gương mặt của người đàn bà đã từ lâu qua ngưỡng tuổi tứ tuần. Song ánh lên trong đôi mắt ấy vẫn là một niềm khao khát đam mê dấu in từ một thời con gái xa xôi.
Bạch Vân đã ngã vào tình yêu ca trù từ bao giờ nhỉ?
Sinh ra trên vùng đất Nghệ An, cô gái trẻ Lê Thị Bạch Vân sớm có năng khiếu ca hát nên đã trở thành học sinh Trường trung cấp Văn hóa nghệ thuật tỉnh. Duyên may trong kỳ tuyển sinh của trường âm nhạc Việt Nam, nghệ sĩ nhân dân Quang Thọ đã chấm tuyển Bạch Vân cùng một người bạn học ra Hà Nội theo học thanh nhạc tại trường âm nhạc Việt Nam. Sang đến năm 1977, cô gái trẻ ham học lại đăng ký nhập học trường Đại học Văn hóa Hà Nội tại Khoa Văn hóa quần chúng, chuyên Ban Âm nhạc và tốt nghiệp ra trường vào năm 1981.
![]() |
| Đào nương Bạch Vân và Nghệ nhân Vũ Văn Hồng biểu diễn tại CLB Ca trù Hà Nội. Ảnh: NVCC |
Ngược dòng thời gian, cơ duyên mà Bạch Vân theo đuổi bộ môn ca trù lại là do người anh trai dạy cho từ thuở ấu thơ những khổ thơ mưỡu nói, hát nói đầu tiên với những ngôn từ trác tuyệt do Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Dương Khuê, Tản Đà, sáng tác. Thế rồi thêm một cơ duyên tốt đẹp cho Bạch Vân là cô đã gặp được cụ Nguyễn Văn Trai, nguyên phó lý làng Láng Thượng xưa. Cụ đã tâm sự với Bạch Vân về nỗi buồn khi ca trù đang trên đường bị mai một khó có người tiếp nối. Cụ đã đưa cho Bạch Vân một cuốn sách ca trù cổ với nguyện vọng Bạch Vân sẽ tiếp tục tìm hiểu và khôi phục lại những nét đẹp hào hoa của Hà Nội một thời xa. Tuy nhiên, cũng phải qua một thời gian chật vật lăn lộn, đến năm 1991, ý nguyện thành lập Cầu lạc bộ Ca trù Hà Nội của Bạch Vân mới được thành hình. Ban đầu còn rất đơn sơ, chuệch choạc, sau mới định hình nền nếp sinh hoạt hằng tuần. Sau kỳ ra mắt tại Văn Miếu Quốc Tử Giám, Câu lạc bộ Ca trù Hà Nội còn phải luân phiên chuyển sinh hoạt từ các di tích như đền Thủ Lệ, đền Quan Nhân... trước khi định hình bến đỗ một thời gian dài tại Bích Câu Đạo quán trên phố Cát Linh.
Dưới mái di tích Bích Câu đạo quán hằng ghi dấu câu chuyện tình diễm lệ của một thời, có lẽ khó ai có thể ngờ tiếng đàn đáy đang ngân nga những âm điệu thánh thót, dịu dàng ấy lại là từ đôi tay của một người đàn ông ngoại quốc, anh Barley Notton, đến từ xứ Anh quốc xa xôi. Barley Notton sang Việt Nam khoảng cuối năm 1992, do được GS - TS Nguyễn Thuyết Phong ở Mỹ giới thiệu tìm hiểu ca trù Việt Nam. Anh đã gặp nghệ sĩ Bạch Vân và nghệ nhân đàn đáy Chu Văn Du để nghiên cứu làm luận văn thạc sỹ về ca trừ. Nền nghệ thuật truyền thống dân tộc Việt Nam hút hồn chàng trai ngoại quốc với những khúc đàn hát thơ mộng, thậm chí có thể gọi là mê hoặc nữa:
- Việt Nam là một xử sở kỳ diệu. Phong cảnh đẹp tươi. Con người thân thiện và âm nhạc truyền thống thì quyến rũ hồn người đi từ hết cung bậc này sang cung bậc khác. Ca trù nghe nói rất bác học nhưng tôi thấy cũng cũng hết sức gần gụi và dễ tiếp cận qua giọng hát và phong cách biểu diễn của Bạch Vân.
Từ nhiều năm rồi, có lẽ trong giới người đam mê nghệ thuật truyền thống của Hà Nội không ai là không biết đến nữ nghệ sĩ Bạch Vân chủ nhiệm câu lạc bộ ca trù Hà Nội đặt tại ngôi đền hay còn gọi là Bích Câu đạo quán trên phố Cát Linh. Cứ vào mỗi ngày chủ nhật cuối tháng dương lịch, Câu lạc bộ Ca trù Hà Nội lại đều đặn nhóm họp. Khách gần khách xa lại lục tục kéo đến. Với họ, sức hấp dẫn và thu hút của Câu lạc bộ không gì khác là niềm đam mê một môn nghệ thuật truyền thống độc đáo của dân tộc, nghệ thuật ca trù hay còn gọi là lối hát cửa đình, hát ả đào, hát nhà trò của một thời.
Nhà riêng của nhà thơ, nhà báo lão làng Chu Hà ở phố Hàng Bột xưa nay là phố Tôn Đức Thắng rất gần ngôi đền Bích Câu, trụ sở của Cầu lạc bộ Ca trù Hà Nội. Vốn cũng là một người nặng lòng trăn trở với nghệ thuật ca trù truyền thống, cụ là người ban đầu đã không mấy tin tưởng và ủng hộ nghệ sĩ trẻ Bạch Vân trong công việc gây dựng lại câu lạc bộ ca trù Hà Nội những ngày đầu trứng nước. Nhưng thực tế đã chứng tỏ thực lực và tâm huyết của Bạch Vân đã đem lại kết quả rất đáng ghi nhận. Năm ấy, ở độ tuổi xấp xỉ cửu tuần, sức lực tuy đã mỏi mòn, đôi tai chừng như đã lễnh lãng đôi phần, song trí nhớ của bậc trưởng thượng Chu Hà vẫn còn đáng nể lắm:
- Bạch Vân rất ham học hỏi. Ca trù có nhiều khúc mưỡu và hát nói được các nhà nho tài ba soạn bằng những câu thơ cổ còn nguyên âm chữ Hán, có thể rất khó hiểu và khó thuộc. Nhưng cô ấy hát không khi nào bị sai từ ngữ hoặc lệch vần điệu. Lớp trẻ học theo cô ấy cũng không dễ đâu.
Và cũng khó ai có thể ngờ được, cứ đều đặn mỗi tháng, từ đất Thanh Hoa xa xôi, có một người đàn ông tuổi đã ngoại bẩy mươi lại khăn gói trống đàn ra Hà Nội để đến với câu lạc bộ ca trù Hà Nội. Đã trên nửa thế kỷ đứt quãng với nghiệp cầm ca, nay ông như được hồi sinh trở lại trong nhịp phách tiếng đàn đầy da diết nhớ thương.
Được kết nạp vào một câu lạc bộ nghệ thuật của người Hà Nội, thật là vinh dự lắm thay. Nghệ nhân đàn đáy ưu tú Ngô Trọng Bình nay đang ở tuổi ngoại chín mươi rất tâm đắc với giọng ca trù Bạch Vân:
- Tôi đàn cho cô Vân hát điệu Thét nhạc hay ca bản Tỳ Bà Hành rất là ăn ý. Khán giả hưởng ứng nhiệt liệt. Tôi cũng như trẻ lại với những cung đàn điệu nhạc ca trù cổ truyền mà không mấy người có thể chia sẻ được niềm đam mê như cô Vân.
Trong cuộc đời con người đều có những dấu ấn năm tháng khó có thể mờ phai. Với Bạch Vân, mấy năm trong thời đoạn chuyển giao thế kỷ là những năm tháng đáng nhớ nhất. Năm 1999, Bạch Vân viết đề án & phối hợp giữa CLB Ca trù HN với Ban Tuyên giáo Thành uỷ, Sở Văn hóa thông tin tổ chức "Hội thảo ca trù Thăng Long Hà Nội lần thứ nhất". Năm 2000, Bạch Vân lại thành công với đề án "Liên hoan ca trù HN mở rộng lần thứ nhất", cũng với sự đồng ý và phối hợp của các cơ quan Thành ủy và Sở chủ quản Văn hóa thông tin. Hoạt động hội thảo và liên hoan ca trù với sự tham gia đại diện 13 tỉnh thành có giáo phường đầu tiên đã thành công vang dội. Từ đó, Quỹ Ford đã đề nghị giúp đỡ Việt Nam trong việc bảo tồn và phát huy nghệ thuật ca trù qua các hoạt động như mở Liên hoan, hội thảo ca trù toàn quốc, đào tạo lớp diễn viên trẻ ca trù cấp tốc. Không ai khác, Bạch Vân lại được Bộ Văn hóa thông tin mời tư vấn giúp tổ chức và soạn giáo án giảng dạy cho lớp học. Với 78 học viên được học cấp tốc hai tháng, lớp học đã tạo tiền để nòng cốt cho các địa phương muốn khôi phục nghệ thuật ca trù ở 13 tỉnh thành phía Bắc.
Đầu năm 2003, Bach Vân được thay mặt nghệ thuật ca trù Việt Nam dự giao lưu biểu diễn tại Diễn đàn xã hội thế giới tổ chức tại Ấn Độ. Giữa năm 2004, Trung tâm từ điển thế giới Oxpord và Cambeger đã bình chọn Bạch Vân là một trong 2000 nhà thức giả xuất sắc thế kỉ XXI. Cũng năm đó Bạch Vân đã cung cấp tư liệu quan trọng về nghệ nhân, giáo phường địa phương của 17 tỉnh thành cho nhà nghiên cứu âm nhạc Đặng Hoành Loan - Viện phó Viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam theo lời đề nghị, để trình Bộ Văn hóa thông tin kiến nghị UNESCO công nhận Hát ca trù là di sản Văn hóa phi vật thể thế giới.
Đam mê với ánh đèn sân khấu nhưng Bạch Vân cũng có một niềm đam mê không kém với công việc học tập và nghiên cứu nâng cao trình độ chuyên môn nghệ thuật. Năm 2004, nàng đã hoàn thành luận văn thạc sĩ nghệ thuật với đề tài "Đào nương và nghệ thuật hát trong ca trừ". Và đến năm 2020, công trình đó khi được in thành sách đã được hội nhạc sĩ Việt Nam tặng thưởng giải B (không có giải A). Đó là một niềm vinh dự mới mẻ của người nghệ sĩ đã dành cả nửa thế kỷ cho tình yêu ca trù.
Vào năm 2012, với những cống hiến nỗ lực cho việc trình diễn, bảo tồn và phát huy nghệ thuật ca trù dân tộc, Bạch Vân đã vinh được được nhà nước phong tặng danh hiêu cao quý Nghệ sĩ ưu tú.
Nhưng giá thử mà không có người từng lao tâm khổ tứ chắp nhặt, chi chút từng manh chiếu, bộ trà, gây dựng nên Câu lạc bộ Ca trù Hà Nội thì sao có được ngày hôm nay, vang danh bốn bể. Nữ nghệ sĩ Bạch Vân từng được mời đi biểu diễn ở rất nhiều nơi trong và ngoài nước, được nhận kha khá những huy chương vàng bạc và giải thưởng cao thấp. Đặc biệt là nàng hay được mời biểu diễn minh hoa cho những cuộc hội thảo về khôi phục nghệ thuật ca trù truyền thống ở Hà Nội và cả nước.
Vang danh bốn bể, nhưng ấy là vang danh câu lạc bộ với cái tôn chỉ mục đích mang hàm chứa đủ đầy tính chân thiện mỹ của nó. Còn Bạch Vân, với sức lực và tài năng hữu hạn, dẫu có gắng gỏi đến mấy, cũng khó có thể vượt lên và nổi trội. Nhưng sự đời, một niềm đam mê đích thực, vốn là tự thân của nó, rất hồn nhiên và trong sáng, đâu chỉ vì một mục đích thực tế cụ thể nào. Dẫu rằng mục đích ấy có thể cũng rất tốt đẹp đi chăng nữa. Và mặc dù nếu có đến được với mục đích ấy, chặng đường đi cũng thật lắm đỗi gian nan gập ghềnh. Mà không thể không nói rằng, điều kiện cần và đủ để tạo sức sống cho một niềm đam mê, ấy chính là cái khoảng cách vô hình đôi khi rất trớ trêu như thế.
Vào một ngày xấu trời nào đó, cái địa điểm linh thiêng mà Bạch Vân chi chút chăm lo từ việc trải chiếu quét nhà cho đến hương hoa trầu rượu tại Bích Câu đạo quán đã bị một thế lực mạnh hơn chiếm cứ. Cả thầy lẫn tớ Bạch Vân lại lơ ngơ phiêu bạt mất một thời gian cho đến khi duyên may lại được nương nhờ dưới bóng Thánh tổ nghề kim hoàn tại đình Kim Ngân phố Hàng Bạc.
Những hoạt động văn hóa văn nghệ truyền thống trong khu phố cổ Hà Nội kể từ dịp kỷ niệm 1000 năm khởi dựng kinh thành Thăng Long Hà Nội, trong đó có câu lạc bộ ca trù của Bạch Vân cũng đã góp phần tạo nên một diện mạo mới mẻ đầy sức sống thu hút đông đảo khách du lịch trong và ngoài nước. Bạch Vân như nạp được thêm một nguồn năng lượng mới để say sưa cống hiến và đào luyện những hạt nhân ca trù trẻ tuổi. Nghệ nhân đàn đáy Nguyễn Bá Hanh (tức Hải) với những ngón đàn điêu luyện ngọt ngào, tình tứ chính là người đã trưởng thành từ những đêm hát ca trù của câu lạc bộ ca trù Hà Nội dưới sự kèm cặp dẫn dắt chí tình từ nghệ sĩ Bạch Vân.
Cho đến nay, đào nương Lê Ngọc Hân, thành viên của cầu lạc bộ ca trù Hà Nội, cô gái trẻ từng theo Bạch Vân từ cái thời Hồng Hồng Tuyết Tuyết mới ngày nào chưa biết cái chi chi... cũng đã thành thục lời ca nhịp phách và được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú vào năm 2014. Đó cũng được coi như một phần thưởng cho cuộc đời nghệ sĩ của Bạch Vân.
Bạch Vân tuổi Đinh Dậu. Cho dù không mê tín thì người đời cũng biết là gái Đinh Dậu chả mấy ai được ung dung nhàn nhã. Từ chuyện sự nghiệp đến chuyện đời tư Bạch Vân cũng đều long vất vả. Kiếp sống của người nghệ sĩ dân gian, như các cụ ta vẫn nói, tiếng cả mà nhà không.
Gọi là nhà không thì không hẳn đã đúng, vì căn nhà của nghệ sĩ Bạch Vân lúc nào cũng ăm ắp tiếng đàn ca. Nhưng mà, ngẫm như một câu Kiều thì:
Rằng hay thì thật là hay
Nghe ra ngậm đẳng nuốt cay thế nào
Có người nghe chuyện trách rằng: Quả là người cũng như tên, chuyện dưới đất không lo, cứ lơ lửng trên trời, đã là mây, lại còn là mây trắng. Sao mà thanh khiết mà bay bổng đến thế. Rồi biết đến bao giờ mà mặt đất gặp được chân mây?
Nhưng quái lạ, trở đi trở lại, cái nghiệp cầm ca dù đắng cay đến mấy, cũng vẫn dễ khiến người ta rút ruột rút gan cả một đời cho nó mà chẳng thể tính toán thiệt hơn. Quả thực vậy, nếu so đo tính toán thiệt hơn thì sao còn có thể gọi là nỗi đam mê.
Chặng đường trở lại đầu tiên của nghệ thuật ca trù truyền thống trên đất Hà Nội dẫu mấy khó khăn trắc trở song cũng đã lui lại đằng sau. Những người đam mê tâm huyết với nghệ thuật ca trù ở Hà Nội đã ngày một đông đảo thêm, trong đó là không ít những mầm non nghệ thuật đang hé nở. Dẫu rằng chặng đường đến với những đỉnh cao của nghệ thuật ca trù còn rất đỗi truân chiên.
Nhưng hỏi rằng liệu Bạch Vân đã có một lần nào nản chí?
- Không bao giờ. Bạch Vân còn sống là còn ca hát và còn gõ phách. Đơn giản chỉ có thế thôi?
Đám hội làng quê bên sông Đuống đang vào canh quan họ nao nức, rộn ràng. Tình tứ và thắm thiết. Nữ nghệ sĩ Bạch Vân đang chờ đến tiết mục biểu diễn của mình. Nàng mở chiếc gương soi dặm lại chút phấn hồng trên đôi má không còn nét bầu bĩnh thơ ngây thuở ban đầu song hãy còn lưu lại đôi nét xuân sắc một thời. Ngắt thêm nhành hoa ngâu bên sân chùa gài lên vành khăn tròn trịa, nàng vẫn không giấu được vẻ hồi hộp trước giờ phút lên chiếu ca trù biểu diễn.
Trong nỗi hân hoan chia sẻ cùng các đồng nghiệp diễn viên trẻ tuổi của nghệ thuật quan họ, hình như có thoáng một chút âu lo trên gương mặt nghệ sĩ ca trù. Liệu bà con sẽ đón đợi tiếng hát ca trù của mình ra sao đây?
Bởi tự xưa, ca trù vốn vẫn là một nghệ thuật mang tính bác học khá cao, nó không dễ thích hợp với số đông khán thính giả, nhất là các khán thính giả của Hà Nội thế kỷ XXI, một Hà Nội đang trên con đường phát triển hội nhập mạnh mẽ với đất nước và cả thế giới. Song có lẽ chính vì thế mà nỗi khát khao bảo tồn và duy trì nó càng thêm cháy bỏng, nồng nàn. Dẫu rằng vẫn khắc khoải trong đáy tim một câu Kiều mông lung nghi hoặc mà cũng khấp khởi ước mong:
Vui là vui gượng kẻo mà
Ai tri âm đó mặn mà với ai?
Trên trời cao, những đám mây trắng mang tên gọi như là một lời tiên tri của cuộc đời nữ nghệ sĩ Bạch Vân vẫn lãng đãng trôi về một chốn xa. Và có lẽ, chúng vẫn đem theo bao nỗi ước mơ của không chỉ một kiếp người trong cõi nhân gian.
Nội dung Podcast đến đây xin được tạm dừng, thân mến chào tạm biệt quý vị!

Những tấm áo dài của mẹ
“Những tấm áo dài của mẹ” là nhan đề bài viết của tác giả, nhà báo Vũ Thị Tuyết Nhung, xin được gửi đến quý vị cùng theo dõi và lắng nghe.
Bài viết:
Một khoảng trời ký ức xa xưa như chợt hiện về trong ánh mắt mờ đục của mẹ. Bàn tay người run rấy mân mê hạt khuy áo ngọc trai trên chiếc áo dài lụa Bombay màu be hồng đã lỗ chỗ đôi ba nốt bã chè. Tôi biết, đó là tấm áo dài duy nhất của mẹ còn lại từ những năm thuộc thập niên 50 của thế kỷ trước. Thời ấy, cha tôi đang còn là một ông chủ hãng xe vận tải nhỏ ở Hà Nội, cảnh nhà cũng khá sung túc. Chiếc áo này mẹ đã mặc khi bế tôi đứng chụp ảnh cạnh chiếc xe nhà, bên hè phố Cửa Đông. Chiếc ảnh ấy nay hãy còn lưu trong tập ảnh gia đình.
![]() |
| Áo dài của người phụ nữ xưa |
Mùa xuân năm Canh Thìn, năm 2000, Tết xong, mẹ tôi ngã bệnh nặng, chạy chữa thuốc thang suốt hơn nửa năm trời không thuyên giảm. Mấy ngày cuối cùng, các mợ, các thím trong họ qua thăm, lúc ra về, đều gọi chị em tôi ra bảo nhỏ:
- Sắp sửa cho mẹ đi, kẻo khi việc xảy ra lại vội vàng.
Dù thương mẹ đứt ruột, nhưng chị em tôi không thể không nghe lời các thím, các mợ.
Ngăn tủ quần áo của mẹ được giở ra. Nhà chật, đương nhiên mẹ trông thấy hết, dù bà đã nằm liệt trên chiếc giường nơi góc phòng. Mẹ bình thản bảo tôi, lúc ấy đang ngồi xoa lưng cho bà:
- Các chị đang sắp sửa cho mẹ đi đấy!
Tôi suýt ứa nước mắt, song vội gạt đi:
- Mẹ cứ nghĩ quẩn, mấy hôm rồi mưa ngâu, sợ quần áo ẩm, chúng con lấy ra đem phơi thôi mà.
Mẹ tôi lắc đầu nhẹ, gọi chị cả tôi đem lại cho bà một bọc gói lớn xếp trên ngăn tủ cao nhất. Bọc khăn vuông sợi chéo "mậu dịch", nền xanh hòa bình kẻ viền màu nâu, dấu vết của thời bao cấp cách đây đã gần 40 năm. Ấy là bọc áo dài của mẹ, áo dài cũ. Còn những chiếc áo đang dùng, vẫn treo sắp hàng trên mắc, trong ngăn tủ gương.
Tôi run run mở mãi mới được chiếc nút khăn buộc chéo dễ đến hai ba múi chặt. Một khoảng trời ký ức xa xưa như chợt hiện về trong ánh mắt mờ đục của mẹ. Bàn tay người run rẩy mân mê hạt khuy áo ngọc trai trên chiếc áo dài lụa Bombay màu be hồng đã lỗ chỗ đôi ba nốt bã chè. Tôi biết, đó là tấm áo dài duy nhất của mẹ còn lại từ những năm thuộc thập niên 50 của thế kỷ trước. Thời ấy, cha tôi đang còn là một ông chủ hãng xe vận tải nhỏ ở Hà Nội, cảnh nhà cũng khá sung túc. Chiếc áo này mẹ đã mặc khi bế tôi đứng chụp ảnh cạnh chiếc xe nhà, bên hè phố Cửa Đông. Chiếc ảnh ấy nay hãy còn lưu trong tập ảnh gia đình.
Còn hàng chục chiếc áo của mẹ may cùng dạo ấy, thì vào thời chiến tranh chống Mỹ, chị em tôi đã lôi hết ra để cắt may thành những chiếc áo mặc hàng ngày. Tội nghiệp, khi còn là áo dài thì trông chúng duyên dáng vậy, mà đến khi sửa thành áo sơ mi, trông chúng rõ ra là đồ thừa thẹo, chắp vá. Mẹ cứ nhìn chị em chúng tôi diện áo mà chẳng khen chê câu nào. Thi thoảng người lén thở dài, chắc là không muốn cho chị em tôi biết rằng người nhớ tiếc lắm vẻ đẹp của một thời cùng bao kỷ niệm về những dịp hội hè, cưới xin, tết nhất thanh bình, êm ấm. Dạo ấy vải vóc khó khăn lắm, mà ai dám chắc sẽ có lúc nào lại được mặc áo dài đi chơi trên phố Hà Nội?
Một tập áo khác, bàn tay mẹ yếu ớt cố cầm soi lên luồng ánh sáng nơi cửa sổ. Đây là bộ áo kép của bà ngoại. Bà ngoại để lại cho mẹ tôi khi người khuất núi. Áo lụa tơ tằm Hà Đông. Chiếc áo bên trong là áo đoạn màu vàng chanh, chiếc áo bên ngoài là áo nhiễu màu huyết dụ. Thuở sinh thời, bà ngoại tôi thường kể, phụ nữ Hà Nội thời ấy, khoảng những năm đầu và giữa thế kỷ XX, đã ít người mặc áo mớ ba tứ thân theo lối cổ, nhưng thường mặc áo kép đôi năm thân như thế. Không mấy ai chỉ mặc áo đơn. Ấy là chưa kể lượt áo cánh ngắn mặc lót bên trong. Như thế mới là kín đáo, lịch sự.
Bên dưới bọc là một tấm áo dài mùa đông, một mặt bằng lĩnh đen, thứ lĩnh Bưởi bóng nhẵn, một mặt là thứ vải láng đen hay chéo đen, tôi cũng không phân biệt rõ lắm. áo trần lối quân cờ. Chiếc áo chỉ mới hơi sờn một chút nơi khuỷu tay. Mẹ thầm thào nhắc:
- Mấy hôm rồi mẹ hay nằm mơ thấy bà ngoại các con...
Tôi bỗng sực nhớ lại hình ảnh của bà ngoại tôi những ngày mùa đông rét mướt cách đây đã trên ba bốn chục năm. Bà thường ngồi uống trà trên chiếc trường kỷ cũ kỹ, mặc đúng tấm áo dài này.
Trên đầu người đội tới hai chiếc khăn. Chiếc khăn láng đen bên trong buộc lối mỏ quạ, phủ ngang trán. Chiếc khăn len bên ngoài màu vàng mơ chỉ trùm ngang đỉnh đầu và thắt múi dưới cằm. Hai tay người thu lu ôm chiếc bình ủ nước nóng quấn mấy lần khăn vải hoa.
Rồi mẹ tôi bảo chị cả tôi mở chiếc tủ gương, ánh mắt người chầm chậm lướt qua cả một dãy áo dài mắc thành hàng trên thanh suốt ngang. Tiếng nói của mẹ nghe đã hơi thều thào song cũng còn khá rành rẽ:
- Cái áo gấm thất thể, mẹ để cho mợ các con (tức là em dâu của mẹ tôi), mợ vẫn thích một chiếc như thế mà chưa có dịp may, mợ vốn nhiệm nhặt quá. Cái áo sa tanh nâu thêu hoa cúc vàng kia, các con đem về cho thím Hai ở dưới quê. Thím cũng già rồi, chắc hay đi lễ... Còn những chiếc áo khác, các dì, các thím, ai thích chiếc nào thì lấy chiếc ấy...
Đôi mắt mẹ như bỗng mờ đi xa xăm... Chắc có lẽ người đang nhớ về cái thời tản cư năm 46, chị em dâu gái đùm bọc cháo cơm, khoai sắn, nuôi cháu, nuôi con trong những chiếc ổ rơm vàng ấm áp...
Dừng một lát, người nhắc:
- Khi mẹ đi thì chỉ cần mặc cho mẹ chiếc áo nhung hoa là đi...
Tấm áo dài nhung hoa, mẹ tôi có dễ may vào thời những năm sau sau khi đất nước đã thống nhất. Mảnh nhung do chị cả tôi đi công tác châu Âu mua tặng. Còn tấm gấm thất thể do tôi sang du lịch Trung Quốc lựa về. Mảnh sa tanh nâu, cô em út được thưởng mang biếu mẹ. Còn những tấm áo khác, hàng chục chiếc không ít, do dích tay mẹ chọn mua vải ở chợ Đồng Xuân hay trên phố Hàng Gai, Hàng Quạt, vào những năm thành phố đã bước vào thời kỳ mở cửa và hội nhập. Những là lụa vân, lụa chí cẩm, nhung the, màu tiết dê, màu vỏ đổ, màu thép sáng, màu mơ già, màu mắm tôm... và hầu hết những tấm áo dài của mẹ tôi đều được may cắt ở cửa hiệu ông Mỹ Hào, người làng Trạch Xá, trên phố Cầu Gỗ. Sau này,không hiểu tại sao, chị em chúng tôi và cả các cháu gái, cũng vẫn đến may áo dài ở chính cửa hiệu ấy, mặc dù Hà Nội bây giờ cũng có bao nhà may danh tiếng khác. Nay ông Mỹ Hào cũng đã bước qua tuổi thất thập rồi, đường kim mối chỉ không biết có còn được như xưa?
Những năm cuối đời, mẹ tôi đã có được đôi chút thư nhàn, thanh thản thường diện áo dài đi hội lễ, cưới xin... và chụp ảnh...
Nhưng mà mẹ tôi bỗng thở dài, nghe thoáng chút ngậm ngùi:
- Mẹ chỉ tiếc, bộ áo cưới của mẹ mấy năm tản cư trong kháng chiến đã không giữ được. Ngày ấy...
Mẹ tôi dường như đã mệt, trở mình quay vào bên trong và chìm dần vào giấc ngủ. Ấy là một ngày trước khi mẹ tôi qua đời chừng ba bốn hôm...
Tôi bất chợt nhớ đến câu thơ của nhà thơ Nguyễn Bính
Này áo đồng lầm, quần lĩnh tía
Này gương, này lược này hoa tai...
Trước mắt tôi lung linh hình ảnh một đám rước dâu lộng lẫy thướt tha, từ nhà ngoại, ở làng Ngũ Xã bên hồ Trúc Bạch, ra Phố cổ Hàng Đồng, vào một mùa xuân cách đây đã gần sáu mươi năm...
Nội dung bài viết đến đây xin được tạm dừng, cảm ơn quý vị đã dành thời gian lắng nghe. Thân ái chào tạm biệt quý vị và các bạn!

Chiếc bình tích đồng thau
“Chiếc bình tích đồng thau” là nhan đề bài viết của tác giả, nhà báo Vũ Thị Tuyết Nhung, kính mời quý vị cùng lắng nghe.
Khi đỡ chiếc bình trên tay, tôi thấy nó dường như bé hẳn đi so với trí nhớ xưa cũ của mình. Duy chỉ cái hình dáng đặc biệt hệt như một chiếc bánh dày đại trong đám hội làng, là tôi thấy y nguyên. Khắp mình nó đầy vết lồi lõm, sứt võ, dù đã được mợ tôi nhờ người hàn lại bằng những mối hàn thiếc.
Vậy mà trong vệt sáng lung linh, mờ ảo nơi thân bình, tôi như thấy hiện lên hình ảnh của những người đàn bà thân yêu nhất trong cuộc đời tôi nay đều đã khuất xa. Bà ngoại, mẹ tôi, dì tôi, mợ tôi, những người đàn bà, con gái, con dâu của làng nghề đúc đồng cổ xưa, vất vả, tảo tần, thương cháu, yêu con nhất mực.
Nghe tin mơ Liên ra đi đột ngột, Tôi chạy với về 38 phố Hàng Đồng. Lúc ấy mợ đã được đưa sang nhà tang lễ Phùng Hưng. Em Tuyết, cô em con cô con cậu của tôi sụt sùi kể chuyện:
Cho đến lúc mợ tôi đột ngột mắc cơn cảm nặng và lâm vào tình trạng hôn mê, dường như đã vô thức, bà mới chịu rời chiếc bình ủ bằng đồng thau đựng đầy nước nóng, bọc trong mấy lần khăn bông to dày.
Không phải là bởi chiếc bình thật là cao giá. Mà bởi chính là nó thật sự cần thiết cho bà. Mấy hôm ấy, trời Hà Nội đang kỳ rét đậm. Hiếm có đợt rét nào kéo dài như đợt rét đầu tháng giêng năm Tân Tỵ 2001. Đấy chính là chiếc bình ủ bằng nước nóng, thay cho lò sưởi giữ ấm thân thể.
Chiếc bình ấy tôi biết, nó có từ thuở sinh thời bà ngoại tôi, tức là bà mẹ chồng của mợ.
![]() |
| Bình tích đồng thau |
Ngày xưa khi còn nhỏ, mỗi kỳ rét đậm, nhất là trong tiết đại hàn, tôi rất thích được vào ngủ cùng bà ngoại, vì bà thường để chiếc bình ủ ấy trong chăn, ấm ơi là ấm! Có đêm, thấy bà sẽ sàng trở mình, tôi mơ màng tỉnh giấc, thì ra là bà đang gượng nhẹ trở dậy để gỡ bớt một lượt khăn bông quấn bên ngoài chiếc bình, chắc là do nước trong bình đã giảm hơi nóng. Rồi dúi nó lại bên mình tôi, ý là để cho cháu ngoại được ngủ ngon thêm một lát trước giờ đi học.
Khi tôi lớn lên, dì Hai tôi sinh thêm em bé. Mỗi lần trời trở nồm, mưa phùn ẩm ướt, quần áo phơi cách nào cũng không khô, bà tôi liền lấy chiếc bình đồng ấy, đồ đầy nước sôi già, rồi quấn cả đám tã lót ướt của em tôi vòng quanh. Chỉ chừng nửa buổi, gỡ ra là chúng khô cong, thơm phức. Ngày ấy, những năm sáu mươi bẩy mươi của thế kỷ trước, lấy đâu ra lò sưởi điện hay máy sấy như bây giờ.
Đến mùa hạ, khi hoa sen đầu mùa chớm nở, mẹ tôi quen lệ ướp vài ba cân trà mạn để dành tiếp khách. Chiếc bình đồng lại được trưng dụng để sấy trà. Bà cho trà đã rắc gạo sen vào những túi giấy bóng mờ, gọi là giấy nến, dán kín lại. Rồi xếp những túi giấy vòng trong lòng chiếc thúng nan. Đoạn, bà đặt chiếc bình tích đã đổ đầy nước sôi già vào giữa thúng. Ủ thêm mấy tấm khăn bông vải to đùng. Qua một ngày đêm sẽ dỡ trà đem sàng bỏ lớp gạo hoa cũ, thay lớp gạo hoa mới. Cứ dăm lần ướp và ủ như thế mới hoàn thiện một mẻ trà hương. Mẹ tôi bảo rằng, trà sấy cách thuỷ kiểu ấy tuy hơi lâu nhưng bền hương, không dễ khét như trà sấy vội, kiểu sấy điện hay sấy than.
Tôi lớn lên, vào đại học, rồi đi lấy chồng, ra ở riêng. Tôi nhớ, ngày tôi sinh con đầu lòng, cũng vào một ngày tháng mười chớm đông năm đầu thập niên 80 của thế kỷ trước. Đích thân bà ngoại tôi còn đi xích lô xuống thăm. Tay bà ôm khư khư chiếc bình đồng thau, để cho tôi dùng ủ tã cho chắt ngoại, khiến tôi cảm động vô cùng. Bởi khi ấy, nhà tôi đang gặp hoạn nạn, vợ chồng xa cách, tôi sinh con, nuôi con một mình, hay tủi thân lắm. Sau đó, theo thời gian, cuộc sống khấm khá lên, vợ chồng tôi cũng sắm đủ, nào là máy sấy, lò sưởi điện, máy điều hòa hai chiều.
Tôi dần dần quên bằng chiếc bình đồng cổ. Hình ảnh cuối cùng về nó mà bấy lâu nay, thi thoảng tôi còn nhớ tới, là hình ảnh của bà ngoại tôi, mặc chiếc áo bông dài trần quân cờ, đầu trùm khăn mỏ quạ, tay thu lu chiếc bình ủ, trong một chiều đầu xuân giá lạnh trước khi bà tôi qua đời ít lâu. Ngày ấy thế mà cách đây đã gần bốn mươi năm.
Khi bà tôi khuất núi, chiếc bình được truyền cho cô con dâu, tức là người mợ hiền của tôi. Giữa đất Hà Nội những năm cuối thế kỷ hai mươi, đầu thế kỷ XXI, mà mợ tôi vẫn dùng chiếc bình ủ ấy, bởi vì nhà mợ vốn không dư giả gì. Mà cũng bởi vì nhà mợ đun bếp than suốt ngày, nước non rất tiện. Rồi còn bởi một lý do vô cùng thiêng liêng nữa. Đó là gia đình bên ngoại tôi vốn quê gốc ở làng đúc đồng Bắc Ninh, làng Dí Hạ, tên chữ là làng Đào Viên thuộc xã Nguyệt Đức, huyện Thuận Thành. Sau họ tộc theo lên sinh sống và hành nghề ở làng Ngũ Xã bên hồ Trúc Bạch, rồi chuyển về ở phố Hàng Đồng mở cửa hàng buôn bán. Có một thời nhà nước quản lý nghiêm ngặt. Nghề đúc đồng và buôn bán đồ đồng bị cấm, gia đình bên ngoại tôi đành phải bỏ nghề trong khoảng vài ba chục năm, mới khôi phục lại cửa hàng, cũng chả dám bày biện to tát gì.
Vào thời buổi khó khăn đó, những món đồ đồng như xanh nồi, đỉnh đèn, lư hương thật là những món đồ cổ quý giá. Chiếc bình đồng cũng vậy. Cậu mợ tôi thi thoảng mua được một mẻ thiếc vụn, đem đúc thành một thoi trên bếp than quả bàng ở sân sau, để bán cho những nhà hàn nồi hàn xoong bên phố Hàng Thiếc, và để hàn chính chiếc bình đồng này những lúc nó không may bị đánh rơi sứt vỡ. Mỗi lúc làm vụng làm trộm một mẻ hàng như thế, cứ phải cài then đóng chặt cửa nhà. Công an mà biết được thì hết đường sống.
Mợ tôi là một người đàn bà phố cổ, nhà ngoại của mợ ngay bên phố Thuốc Bắc. Tên cúng cơm của mợ là Chung. Mãi sau tôi mới biết. Chứ toàn gọi mợ theo tên cậu Liên tôi. Mợ rất đảm đang, chịu khó và nhẫn nhịn. Mợ nhất mực phục tùng và e sợ cậu tôi, một giai phố cổ chính hiệu, con trai duy nhất của ông ký tòa cũ, mà sang thời chế độ mới, thành anh công nhân. Anh công nhân nhưng vẫn không bỏ nếp sống "cậu ấm" cũ. Mợ tự hiểu mà phục vụ. Kể cả suốt một thời chiến tranh bao cấp khó khăn ngặt nghèo, mợ vẫn thổi riêng cho cậu tôi một cái niêu mốt đồng điếu cơm gạo quê.
Còn cả nhà ăn cơm gạo mậu dịch. Cậu tôi dù thời buổi nào cũng giữ thói quen đọc sách và sưu tầm sách. Cậu cần đến tiền mua sách và tiếp đãi trà rượu các bạn bè yêu văn chương, là mợ tôi phải đưa, bất biết nhà thiếu đủ ra sao. Không một câu than thân trách phận.
Nghĩ lại mà thương mợ quá.
Sau này, có lần vào thăm mợ, lúc trà nước rôm rả, tôi vui miệng nói đùa: "Khi nào mợ hai năm mươi, mợ nhớ cho con chiếc bình đồng, còn con không xin gì cả". Thế mà mợ tôi cười, đưa tay vuốt đôi khóe miệng tươi màu nước cốt trầu, hàm răng đen hạt na lấp lánh. Mợ bằng lòng ngay. Bởi vì tôi là một đứa cháu gái rất được mợ yêu quý. Dù hoàn cảnh riêng còn nhiều vất vả, song tôi bao giờ cũng vẫn nhớ qua lại đỡ đần, thăm hỏi mợ và các em tôi, nhất là khi cậu tôi đã sớm đi xa, để lại mợ với gánh nặng nuôi bốn đứa em tôi đang tuổi ăn tuổi lớn, học hành còn dang dở.
Ngờ đâu, mợ tôi đột ngột qua đời, không kịp dặn dò cháu con lấy một lời. Hôm cúng ba ngày mợ, em Tuyết tôi dỡ chiếc bình từ trong bọc khăn bông tưởng còn ấm hơi mợ, dốc nước trong bình cho hết để đưa cho tôi. Nước mắt tôi ròng ròng chảy theo dòng nước trong vắt róc rách tuôn xuống tự cổ bình. Khi đỡ chiếc bình trên tay, tôi thấy nó dường như bé hẳn đi so với trí nhớ xưa cũ của mình. Duy chỉ cái hình dáng đặc biệt hệt như một chiếc bánh dày đại trong đám hội làng, là tôi thấy y nguyên. Khắp mình nó đầy vết lồi lõm, sứt vỡ, dù đã được mợ tôi nhờ người hàn lại bằng những mối hàn thiếc.
Vậy mà trong vệt sáng lung linh, mờ ảo nơi thân bình, tôi như thấy hiện lên hình ảnh của những người đàn bà thân yêu nhất trong cuộc đời tôi nay đều đã khuất xa. Bà ngoại, mẹ tôi, dì tôi, mợ tôi, những người đàn bà, con gái, con dâu của làng nghề đúc đồng cổ xưa, vất vả, tảo tần, thương cháu, yêu con nhất mực.
Tôi đem chiếc bình về nhà, ủ mẻ chua và xin nắm cát đen đánh sạch bóng, lấy rượu thơm tráng lại, đem để cạnh chiếc tráp trâu khảm trai, bịt viền đồng là kỷ vật của mẹ tôi để lại, và những món đồ đồng khác mà tôi đi du lịch các nước mang về, cũng như những tác phẩm đồ đồng mỹ nghệ của các nghệ nhân Hà Nội mà tôi sưu tầm được trong những năm đi làm báo hình tại Đài Hà Nội.
Các con tôi về nhà thấy chiếc bình là lạ, méo mó và xấu xí để trong phòng khách, chúng ngạc nhiên lắm. Bởi vậy tôi đã kể lại chuyện cho chúng nghe. Và đó chính chính là câu chuyện này đây.
Các bạn tôi ơi!
Nội dung bài viết “Chiếc bình tích đồng thau” đến đây xin được tạm dừng, cảm ơn quý vị đã dành thời gian lắng nghe. Thân ái chào tạm biệt quý vị và các bạn!
Hà Nội: Hạn chế ô tô trên 16 chỗ tại phố cổ
Tết Ất Tỵ: Du khách tấp nập check-in tại di tích phố cổ Hà Nội
Chương trình “Tết Việt – Tết phố” mừng Xuân Ất Tỵ 2025
Ai được miễn phí tham quan di tích phố cổ Hà Nội?
Bà con người Tày, Nùng đưa ‘điệu hát thần tiên’ hát Then về Hà Nội
Để không gian đi bộ phố cổ Hà Nội có sức hút với khách du lịch
Hà Nội: Ngỡ ngàng nhiều vườn hoa 'khoác áo' mới đón dịp nghỉ lễ Quốc khánh
Du khách nước ngoài thích thú bơi lội ngay trên phố cổ Hà Nội sau cơn mưa lớn











