Sửa Luật Điện lực sau 20 tháng: Luật đi trước mở đường - Bài 1: Tháo gỡ những điểm nghẽn cấp bách

Sửa Luật Điện lực sau 20 tháng là bước chủ động đáp ứng yêu cầu phát triển, mở đường cho đầu tư, nhưng cần làm rõ ba nội dung then chốt về phân bổ rủi ro.

Năm 1919, trong bài "Việt Nam yêu cầu ca", Nguyễn Ái Quốc viết hai câu đặt cạnh nhau một cách có chủ ý: "Mở mang kỹ nghệ, lập thành công thương" và "Bảy xin hiến pháp ban hành, Trăm đều phải có thần linh pháp quyền". Công thương và pháp quyền, ngay từ bản yêu sách đầu tiên của Người, đã là hai mặt của một con đường phát triển.

Hơn một thế kỷ sau, theo chương trình tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội nghe tờ trình dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực. Đạo luật gốc, Luật số 61/2024/QH15, mới có hiệu lực từ ngày 1/2/2025, đến nay mới hơn 20 tháng thi hành - một khoảng thời gian ngắn đối với một đạo luật. Theo hồ sơ Chính phủ trình Quốc hội, dự luật sửa đổi, bổ sung nhiều quy định và bãi bỏ toàn bộ 3 điều. Về thủ tục hành chính, dự kiến bãi bỏ 3 thủ tục, sửa đổi 19 thủ tục và ban hành mới 1 thủ tục về cấp chứng chỉ năng lượng tái tạo.

Khai mạc Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XVI. Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Khai mạc Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XVI. Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Bài học từ những bước "phá rào"

Lịch sử kinh tế Việt Nam cho thấy cái giá của việc thể chế chậm theo kịp cuộc sống. Nhà sử học kinh tế Đặng Phong - người được coi là "cuốn từ điển sống" về kinh tế Việt Nam ghi lại rằng trước Đổi mới, cấp cơ sở là nơi "trực tiếp va chạm với những bức xúc của quần chúng nhân dân, nhưng lại chưa đủ tầm cỡ để đặt lại vấn đề về đường lối, chính sách, nên chỉ tìm những cách để lách cơ chế, phá rào, vượt rào... như những biện pháp tình huống để giải quyết những khó khăn trong đời sống thực tế". Khi thể chế chưa mở đường, những người trực tiếp sản xuất, điều hành phải tự tìm lối tháo gỡ, chấp nhận rủi ro vượt khỏi khuôn khổ quy định hiện hành.

Ngành điện không thể lặp lại tình trạng thể chế đi sau thực tiễn. Theo báo cáo của Bộ Công Thương ngày 13/10/2026, khoảng 44.900 MW nguồn điện, chưa tính năng lượng tái tạo, có nguy cơ chậm tiến độ đến năm 2030; riêng miền Bắc có thể thiếu khoảng 6.600 MW. Chín tháng năm 2026, công suất nguồn chỉ tăng 3,5%, thấp hơn mục tiêu tối thiểu 6,6% theo Nghị quyết 01/NQ-CP. Trước sức ép đó, thủ tục đầu tư trùng lặp càng làm chậm bổ sung nguồn điện và dễ phát sinh cách làm "lách" quy định. Sửa luật sớm để tháo gỡ vướng mắc chính là cách hạn chế việc phải "phá rào".

Công suất nguồn điện 9 tháng năm 2026 tăng 3,5%, mới bằng hơn một nửa mức tối thiểu 6,6%.

Công suất nguồn điện 9 tháng năm 2026 tăng 3,5%, mới bằng hơn một nửa mức tối thiểu 6,6%.

Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị yêu cầu xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù vượt trội để thu hút, triển khai các dự án năng lượng quan trọng, cấp bách của quốc gia. Quốc hội khóa XV đã cụ thể hóa một phần định hướng này bằng Nghị quyết số 253/2025/QH15, trong đó Điều 8 quy định cơ chế giá điện trong đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư, Điều 13 quy định về mua bán điện trực tiếp. Ngày 6/2/2026, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 119/2026/UBTVQH15, tách riêng nhiệm vụ sửa Luật Điện lực trong Chương trình lập pháp năm 2026. Quá trình này cho thấy sự nối tiếp từ định hướng của Đảng đến cơ chế cụ thể của Quốc hội, tiến tới luật hóa những nội dung đủ cơ sở để áp dụng ổn định, lâu dài.

Tại phiên họp Chính phủ chuyên đề xây dựng pháp luật chiều 18/8/2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng đề nghị dự án sửa Luật Điện lực làm rõ nguyên tắc xử lý các vấn đề nhà đầu tư quan tâm về giải tỏa công suất, giá mua điện và đơn vị mua điện. Đây cũng là ba câu hỏi đặt ra trước quyết định đầu tư: điện làm ra có được giải tỏa, bán với giá nào và ai sẽ mua.

Năm nhóm nội dung theo thứ tự khoản của Điều 1 dự thảo.

Năm nhóm nội dung theo thứ tự khoản của Điều 1 dự thảo.

Ba thay đổi đáng chú ý có thể tạo chuyển biến trong đầu tư và mua bán điện.

Thứ nhất, đơn giản hóa thủ tục đầu tư, áp dụng giá điện trúng thầu. Theo tờ trình, dự thảo bỏ thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư đối với dự án đủ điều kiện luật định, đồng thời lấy giá điện trúng thầu làm cơ sở giao kết hợp đồng. Những điều chỉnh này giúp giảm thủ tục, rút ngắn đàm phán và làm rõ phương án giá ngay từ khâu lựa chọn nhà đầu tư.

Thứ hai, bổ sung khung đầu tư lưới truyền tải điện theo phương thức đối tác công tư (PPP). Báo cáo ngày 13/10 của Bộ Công Thương ghi nhận khó khăn trong thu hút vốn xã hội đầu tư truyền tải, đồng thời đề xuất chủ đầu tư nguồn điện tham gia đầu tư đường dây khi lưới chưa sẵn sàng. Khung PPP làm rõ cơ chế thu hồi vốn, thanh toán và phân bổ rủi ro sẽ tạo cơ sở huy động nguồn lực này.

Thứ ba, mở rộng đối tượng mua bán điện trực tiếp, tiếp nối cơ chế tại Nghị định 243/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026. Theo số liệu Báo Công Thương dẫn, năm 2025, thị trường phát điện cạnh tranh có 118 nhà máy với tổng công suất khoảng 34.080 MW, trong đó khu vực tư nhân chiếm gần một nửa. Dù vậy, công suất tham gia thị trường mới chiếm khoảng 38% tổng công suất hệ thống. Sự đa dạng về sở hữu nguồn điện đòi hỏi mở rộng phương thức giao dịch, tăng quyền lựa chọn cho cả bên bán và bên mua.

Đường dây truyền tải 500Kv Sơn La - Hiệp Hoà.

Đường dây truyền tải 500Kv Sơn La - Hiệp Hoà.

Thế giới cũng điều chỉnh pháp luật để đáp ứng yêu cầu ngành điện

Điều chỉnh cơ chế điện khi thực tiễn thay đổi không phải chuyện riêng Việt Nam. Cơ quan Năng lượng Quốc tế ghi nhận đầu tháng 2/2025, Trung Quốc công bố cải cách giá điện tái tạo theo thị trường theo hướng toàn bộ điện tái tạo tham gia thị trường điện, nới trần giá trên thị trường giao ngay, giá cố định FIT bị loại bỏ dần và thay bằng cơ chế hợp đồng chênh lệch.

Bài học nằm ở khả năng điều chỉnh chính sách theo thực tiễn. Khi năng lượng tái tạo chiếm khoảng 30% công suất hệ thống, tương đương gần 30.000 MW như Việt Nam hiện nay, cơ chế giá cố định của giai đoạn khởi đầu cần được điều chỉnh phù hợp. Pháp luật phải theo kịp chuyển dịch năng lượng. Dự thảo sửa Luật Điện lực đang đi theo hướng đó, thông qua cơ chế giá trúng thầu và thúc đẩy năng lượng tái tạo tham gia thị trường điện.

Tỷ trọng sản lượng điện từ năng lượng tái tạo, tính cả thuỷ điện, của Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Đức và bình quân thế giới giai đoạn 2000 tới 2025. Nguồn: Biểu đồ Our World in Data, dữ liệu Ember (2026), giấy phép CC BY; truy cập 15/10/2026.

Tỷ trọng sản lượng điện từ năng lượng tái tạo, tính cả thuỷ điện, của Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Đức và bình quân thế giới giai đoạn 2000 tới 2025. Nguồn: Biểu đồ Our World in Data, dữ liệu Ember (2026), giấy phép CC BY; truy cập 15/10/2026.

Những vấn đề cần quan tâm

Dự luật đi đúng hướng, song một số quy định cần được làm rõ để vừa khuyến khích đầu tư, vừa phân bổ hợp lý rủi ro, bảo vệ người sử dụng điện. Ba nội dung dưới đây cần được cân nhắc kỹ; vấn đề giá bán lẻ và bù chéo sẽ được bàn riêng ở kỳ 2.

Thứ nhất, làm rõ yêu cầu "bảo đảm thu hồi đầy đủ" trong giá hợp đồng mua bán điện. Trình bày ý kiến thẩm tra sơ bộ tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 21/9/2026, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải cho biết, Thường trực Ủy ban lưu ý quy định này có thể dẫn đến cách hiểu Nhà nước bảo đảm kết quả tài chính cho nhà đầu tư. Cơ quan thẩm tra đề nghị giá điện phải được xác định trên cơ sở chi phí hợp lý, hợp lệ, hiệu quả đầu tư, mức độ rủi ro và điều kiện thị trường, tránh chuyển toàn bộ rủi ro đầu tư, kinh doanh sang Nhà nước, bên mua điện hoặc người sử dụng điện.

Nhà máy Nhiệt Điện BOT Nghi Sơn 2. Ảnh minh hoạ

Nhà máy Nhiệt Điện BOT Nghi Sơn 2. Ảnh minh hoạ

Tại Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách ngày 28/9, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, Đoàn Hải Phòng, nhấn mạnh: "Không thể đánh đồng mọi khoản chi thực tế của một dự án với chi phí hợp lý mà xã hội phải gánh chịu".

Điểm a khoản 12 Điều 5 Luật Điện lực số 61/2024/QH15 đã đặt nguyên tắc giá điện phản ánh chi phí sản xuất, kinh doanh hợp lý, hợp lệ, đồng thời tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế đầu tư phát triển điện lực có lợi nhuận hợp lý. Dự luật cần kế thừa nguyên tắc này và làm rõ cơ chế phân bổ rủi ro giữa bên bán, bên mua và Nhà nước. Nhà đầu tư cần cơ chế minh bạch, có thể dự báo để tính toán hiệu quả, đồng thời chịu trách nhiệm về quyết định đầu tư của mình.

Thứ hai, quy định rõ tiêu chí xác định công trình điện cấp bách. Luật Điện lực số 61/2024/QH15 sử dụng thuật ngữ "dự án, công trình điện lực khẩn cấp". Đối với các trường hợp tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 14, Điều 15 cho phép áp dụng cơ chế đặc thù: quyết định của Thủ tướng Chính phủ thay thế thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư riêng; trường hợp có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng rừng, quyết định đồng thời là văn bản chấp thuận chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng và phải ghi rõ diện tích cần chuyển. Vì vậy, tiêu chí xác định dự án thuộc diện áp dụng có ý nghĩa quyết định đối với phạm vi thực hiện cơ chế đặc thù.

Trong khi đó, đại biểu Đặng Bích Ngọc, Đoàn Phú Thọ, đề nghị dự thảo luật bổ sung các điều kiện, tiêu chí xác định dự án điện lực cấp bách, điều kiện lựa chọn và trách nhiệm kiểm soát. Đây là kiến nghị cần được cân nhắc để bảo đảm cơ chế đặc thù được áp dụng đúng đối tượng.

Để cụ thể hóa yêu cầu này, có thể nghiên cứu các tiêu chí đo lường được, như mức thiếu hụt công suất so với yêu cầu cung ứng điện, thời hạn phải đưa công trình vào vận hành và thời hạn áp dụng cơ chế đặc thù; đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết trình tự thực hiện. Thủ tục cần linh hoạt, tiêu chí phải rõ ràng để thuận lợi cho kiểm tra, giám sát.

Thứ ba, cân nhắc phạm vi áp dụng cơ chế đặc thù theo tỷ lệ sở hữu vốn. Đại biểu Đào Chí Nghĩa, Đoàn Cần Thơ, lưu ý việc mở rộng cơ chế đặc thù sang doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn là thay đổi cần tiếp tục nghiên cứu.

Trong bối cảnh nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia đầu tư nguồn điện, việc áp dụng cơ chế khác nhau theo hình thức sở hữu cần được đánh giá kỹ về tác động đến cạnh tranh và khả năng huy động nguồn lực. Cơ chế đặc thù nên gắn với mức độ cấp bách, yêu cầu bảo đảm cung ứng điện và trách nhiệm thực hiện của dự án, thay vì chỉ căn cứ vào tỷ lệ vốn nhà nước. Bên cạnh ba nội dung trên, luật sửa đổi nên bổ sung quy định rà soát kết quả thi hành.

Sau hai năm, Chính phủ báo cáo Quốc hội bằng số liệu cụ thể về hiệu quả của cơ chế đấu thầu, đối tác công tư trong đầu tư lưới điện và việc thực hiện danh mục công trình cấp bách. Kết quả cần được đánh giá qua tiến độ dự án, công suất bổ sung, nguồn vốn huy động và chi phí thực hiện, làm căn cứ điều chỉnh chính sách khi cần thiết.

Còn nữa ...

Khơi thông đầu tư nguồn và lưới điện mới là một phần yêu cầu sửa luật. Khi dòng vốn được huy động, chi phí sẽ được phân bổ thế nào giữa các nhóm khách hàng, giữa giờ cao điểm và thấp điểm? Xóa bỏ bù chéo đi cùng cơ chế hỗ trợ nào để bảo vệ người yếu thế... sẽ được phân tích ở Bài 2.

Lâm Vỹ Sơn

Có thể bạn quan tâm