Nông dân, hộ kinh doanh bán hàng trên thương mại điện tử: Hiệu quả 'đo' bằng gì?

Từ thực tế hỗ trợ các xã bán hàng trực tuyến, doanh nghiệp cho rằng hiệu quả thương mại điện tử phải được đo bằng đơn hàng, doanh thu và khả năng mở rộng thị trường.

Việc đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử mới chỉ là bước khởi đầu của quá trình chuyển đổi số. Với các doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh ở khu vực nông thôn, giá trị thực sự chỉ xuất hiện khi sản phẩm có khách hàng, phát sinh đơn hàng, tạo doanh thu và từng bước mở rộng được thị trường. Đây cũng là vấn đề được đặt ra trong quá trình triển khai Tiêu chí 7.3 về “Triển khai hiệu quả hoạt động thương mại điện tử” thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2026-2030.

Đưa sản phẩm lên sàn mới chỉ là bước đầu

Trao đổi với Báo Công Thương, từ thực tế vận hành sàn Hi1 - Thuần Việt và nhiều lần đồng hành, hỗ trợ bà con tại các địa phương tiếp cận thương mại điện tử, ông Kiều Tiến Anh, Giám đốc vận hành sàn Hi1, cho rằng không nên đánh giá hiệu quả bằng số lượng gian hàng được mở hay số sản phẩm được đưa lên nền tảng.

Theo ông, điều quan trọng hơn là phải xác định có bao nhiêu nhà bán thực sự hoạt động, bao nhiêu sản phẩm phát sinh giao dịch, số đơn hàng và doanh thu qua môi trường số. “Không đo chuyển đổi số bằng số gian hàng được mở, mà phải đo bằng số người bán được hàng, số đơn hàng được tạo ra và thu nhập thực tế mà người dân nhận được”, ông Kiều Tiến Anh nhấn mạnh.

Ông Kiều Tiến Anh hướng dẫn hội viên nông dân, các hộ sản xuất kinh doanh vừa và nhỏ đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử.

Ông Kiều Tiến Anh hướng dẫn hội viên nông dân, các hộ sản xuất kinh doanh vừa và nhỏ đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử.

Từ dữ liệu thực tế trên sàn, đại diện Hi1 cho rằng có thể theo dõi nhiều nhóm chỉ số để đánh giá hiệu quả thương mại điện tử. Trong đó, số nhà bán hoạt động thực tế phản ánh mức độ tham gia của doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh; số sản phẩm có giao dịch cho thấy hàng hóa có thực sự được thị trường đón nhận hay không.

Bên cạnh số đơn hàng và doanh thu, tỷ lệ chuyển đổi từ người xem thành người mua, tỷ lệ khách hàng mua lại, tỷ lệ đơn hàng thành công, đơn hủy và hoàn trả cũng là những chỉ số quan trọng. Đặc biệt, khả năng mở rộng thị trường ra ngoài địa phương được xem là một trong những giá trị lớn nhất của thương mại điện tử.

“Ví dụ một hợp tác xã trước đây chủ yếu bán sản phẩm tại địa phương nhưng sau khi tham gia thương mại điện tử có thể bán được hàng tới Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng hoặc nhiều tỉnh, thành khác thì đó mới là giá trị rất lớn mà thương mại điện tử mang lại”, ông Kiều Tiến Anh phân tích.

Tuy nhiên, thực tế triển khai tại cơ sở cho thấy không ít sản phẩm dù đã được đưa lên môi trường số vẫn chưa tạo được đơn hàng và doanh thu ổn định. Theo ông Kiều Tiến Anh, một trong những nguyên nhân là kỹ năng bán hàng số của người dân còn hạn chế. Nhiều hộ kinh doanh, hợp tác xã có sản phẩm tốt nhưng chưa thành thạo chụp ảnh, xây dựng nội dung, livestream, chăm sóc khách hàng hay sử dụng công cụ tiếp thị liên kết. Không ít sản phẩm cũng chưa được chuẩn hóa về hình ảnh, bao bì, thông tin, câu chuyện thương hiệu và các yếu tố tạo niềm tin cho khách hàng trực tuyến.

Hội viên Hội Nông dân xã Đại Xuyên (thành phố Hà Nội) được hướng dẫn kỹ năng giới thiệu sản phẩm trực quan, tạo tương tác với khách hàng và nâng cao hiệu quả quảng bá, tiêu thụ sản phẩm.

Hội viên Hội Nông dân xã Đại Xuyên (thành phố Hà Nội) được hướng dẫn kỹ năng giới thiệu sản phẩm trực quan, tạo tương tác với khách hàng và nâng cao hiệu quả quảng bá, tiêu thụ sản phẩm.

Một điểm nghẽn khác là thiếu lực lượng đưa sản phẩm đến người tiêu dùng. Do đó, Hi1 đang hướng tới mô hình Affiliate - tiếp thị liên kết, xây dựng mạng lưới cộng tác viên giới thiệu sản phẩm Việt Nam tới cộng đồng khách hàng. Sàn cũng phát triển mô hình “Mỗi xã một gian hàng”, tập hợp sản phẩm OCOP, sản phẩm của hợp tác xã, làng nghề và đặc sản địa phương vào một không gian số chung.

Theo đại diện Hi1, mục tiêu không phải đơn thuần mở tài khoản cho người dân mà xây dựng một chuỗi hỗ trợ từ chuẩn hóa sản phẩm, đưa hàng lên sàn, xây dựng gian hàng, truyền thông, tiếp thị liên kết, phát sinh đơn hàng đến theo dõi dữ liệu và mở rộng thị trường.

Tiêu chí 7.3 chuyển từ “có hoạt động” sang tạo giá trị

Từ thực tiễn của doanh nghiệp, yêu cầu đặt ra đối với địa phương cũng được phản ánh rõ hơn trong cách tiếp cận Tiêu chí 7.3. Ông Nguyễn Hữu Tuấn, Giám đốc Trung tâm Phát triển Thương mại điện tử và Công nghệ số (eComDX), đơn vị được Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số giao nhiệm vụ hướng dẫn triển khai Tiêu chí 7.3, cho rằng không thể chỉ dựa vào số gian hàng, số lớp tập huấn hay số sản phẩm được đưa lên môi trường số để kết luận về hiệu quả thương mại điện tử.

Ông Nguyễn Hữu Tuấn, Giám đốc Trung tâm Phát triển Thương mại điện tử và Công nghệ số (eComDX).

Ông Nguyễn Hữu Tuấn, Giám đốc Trung tâm Phát triển Thương mại điện tử và Công nghệ số (eComDX).

Theo ông Tuấn, thương mại điện tử tại cấp xã không chỉ giới hạn ở mua bán hàng hóa mà còn bao gồm du lịch trực tuyến, kinh doanh ẩm thực trực tuyến, vận tải công nghệ, giao hàng và các dịch vụ số khác. Chủ thể tham gia cũng rất đa dạng, từ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh đến cá nhân.

Một địa phương có thể có đầy đủ báo cáo về số lớp tập huấn, số người tham dự hay số sản phẩm được quảng bá. Tuy nhiên, những con số này chưa đủ nếu không xác định được bao nhiêu chủ thể thực sự ứng dụng, bao nhiêu đơn hàng phát sinh, doanh thu trực tuyến đạt bao nhiêu và thị trường được mở rộng như thế nào.

“Điểm quan trọng là phải chuyển từ ‘có hoạt động thương mại điện tử’ sang ‘thương mại điện tử tạo ra giá trị’”, ông Tuấn nhấn mạnh.

Theo cách tiếp cận này, triển khai hiệu quả hoạt động thương mại điện tử là khi xã thiết lập được hạ tầng, hệ sinh thái hoặc vận hành đồng bộ, nơi các chủ thể kinh doanh sử dụng thành thạo kỹ năng số để trực tiếp phân phối, bán sản phẩm qua nền tảng số, tạo hiệu quả kinh tế thực tế, tối ưu logistics và truy xuất nguồn gốc minh bạch.

Để thực hiện yêu cầu trên, ông Tuấn cho rằng thương mại điện tử cần được tiếp cận như một hệ sinh thái kinh tế, trong đó con người, nền tảng, logistics, dữ liệu và cơ chế quản lý cùng tham gia vào một chuỗi giá trị. Đặc biệt, dữ liệu phục vụ đánh giá không nằm ở một nguồn duy nhất. Cơ quan quản lý nhà nước có dữ liệu hành chính; đơn vị bưu chính nắm dữ liệu giao nhận; nền tảng công nghệ có dữ liệu giao dịch; cơ quan thuế có dữ liệu kê khai và nghĩa vụ thuế; địa phương có dữ liệu kinh tế - xã hội, trong khi chính các chủ thể kinh doanh nắm thông tin về doanh thu và tỷ trọng bán hàng trực tuyến.

“Nếu các nguồn dữ liệu này được khai thác riêng rẽ, bức tranh về thương mại điện tử sẽ thiếu tính toàn diện. Ngược lại, khi có cơ chế phối hợp, dữ liệu có thể được sử dụng để đối chiếu, hiệu chỉnh và kiểm chứng lẫn nhau”, ông Tuấn cho biết. Từ đó, ông đề xuất địa phương thành lập tổ công tác liên ngành, thu thập dữ liệu nền tảng và dữ liệu hành chính, tổ chức khảo sát chọn mẫu, tổng hợp và tính toán, sau đó đối chiếu với dữ liệu quản lý thuế để hiệu chỉnh kết quả.

Với doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh, điều này đồng nghĩa việc tham gia thương mại điện tử cần được nhìn như một hoạt động kinh doanh thực sự, với sản phẩm phù hợp, kỹ năng vận hành, dữ liệu bán hàng, logistics và khả năng chăm sóc khách hàng.

Khi sản phẩm nông thôn không chỉ xuất hiện trên môi trường số mà thực sự bán được hàng, tạo thêm doanh thu, tiếp cận khách hàng ngoài địa phương và nâng cao thu nhập cho người dân, khi đó thương mại điện tử mới phát huy đầy đủ vai trò trong xây dựng nông thôn mới.

Phương Cúc

Có thể bạn quan tâm