Với nhiều sản phẩm của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, làm ra sản phẩm mới chỉ là điểm khởi đầu. Để một sản vật từ những vùng núi cao có thể trở thành hàng hóa, duy trì được đầu ra và tiếp cận những thị trường rộng hơn, phía sau sản phẩm cần có nhiều mắt xích cùng vận hành: từ vùng nguyên liệu, thu gom, sản xuất, chế biến đến phân phối và tiêu thụ.
Câu chuyện cây chè Shan tuyết ở khu vực Tây Côn Lĩnh, Tuyên Quang cho thấy khá rõ điều đó. Ở đây, người dân duy trì cây chè, các đầu mối thu mua tập hợp sản lượng, doanh nghiệp tham gia thu mua và hướng dẫn sản xuất. Ở phía thị trường, hoạt động xúc tiến thương mại tiếp tục mở thêm các kênh quảng bá, kết nối giao thương và tiêu thụ.
Khi những mắt xích ấy được nối với nhau, bài toán đầu ra của sản phẩm vùng cao không còn chỉ phụ thuộc vào từng hộ sản xuất riêng lẻ.
Bà Trương Thị Vàng, người dân tại thôn Xà Phìn, xã Thanh Thủy, tỉnh Tuyên Quang
Từ nương chè đến điểm thu mua
Ở thôn Xà Phìn, xã Thanh Thủy, tỉnh Tuyên Quang, cây chè Shan tuyết là sản phẩm chính của gia đình bà Trương Thị Vàng. Diện tích không lớn, sản lượng mỗi vụ cũng không cao, nhưng theo bà Vàng, điều thuận lợi là sản phẩm làm ra có doanh nghiệp thu mua tương đối ổn định.
“Chè tươi hiện được doanh nghiệp thu mua với giá khoảng 50.000 đồng/kg. Tùy từng ngày, một người có thể hái được khoảng 10-20 kg chè tươi, tương đương thu nhập khoảng 500.000 đồng/ngày. Mỗi vụ chè, thu nhập của gia đình khoảng 5-10 triệu đồng. Doanh nghiệp thu mua sản phẩm tương đối ổn định; khi gia đình thu hái, doanh nghiệp thu mua hết sản lượng, không xảy ra tình trạng chè thu hoạch ra nhưng không có nơi tiêu thụ”, bà Vàng chia sẻ.
Với một hộ sản xuất quy mô nhỏ, đầu ra ổn định có ý nghĩa không kém giá bán. Khi sản phẩm sau thu hoạch có nơi tiếp nhận, người dân có thêm cơ sở duy trì vùng chè thay vì phải phụ thuộc vào từng thời điểm thị trường.
Nhưng để sản lượng từ những hộ dân phân tán đến được doanh nghiệp, cần thêm một mắt xích trung gian. Tại khu vực này, ông Hoàng Văn Hội là người trực tiếp thu mua chè cho bà con và cung cấp cho Công ty TNHH Thành Sơn.
Theo ông Hội, mỗi năm chè có khoảng ba vụ thu hoạch. Vụ chè xuân vào tháng 3 thường có sản lượng cao hơn; các vụ từ tháng 7 đến tháng 9 sản lượng thấp hơn. Giá chè tươi hiện khoảng 50.000-60.000 đồng/kg và được duy trì tương đối ổn định.
“Vào vụ chè xuân tháng 3, sản lượng thu mua có thể đạt trên 1 tấn chè tươi/ngày. Những tháng từ tháng 7 đến tháng 9, sản lượng thấp hơn, khoảng vài trăm kg/ngày. Tất cả chè bà con hái về đều được thu mua. Tôi là đầu mối thu mua tại địa phương và cung cấp sản phẩm cho Công ty Thành Sơn”, ông Hội cho biết.
Như vậy, từ những nương chè nằm rải rác trên địa bàn, sản phẩm được tập hợp qua đầu mối thu mua trước khi đến doanh nghiệp. Với vùng sản xuất địa hình chia cắt, quy mô hộ nhỏ, đây là một khâu có vai trò kết nối nguồn nguyên liệu với thị trường.
Đáng chú ý, mối liên kết không chỉ dừng ở việc thu mua. Theo ông Hội, trong quá trình sản xuất, ông phối hợp với Công ty Thành Sơn hướng dẫn bà con chăm sóc cây chè. Cây chè ở khu vực này chủ yếu được chăm sóc, tỉa cành sau mỗi vụ thu hoạch để tiếp tục sinh trưởng và cho năng suất ở vụ sau.
Không chỉ mua bán, mà cùng giữ vùng nguyên liệu
Từ phía doanh nghiệp, liên kết với người dân cũng được nhìn nhận như một quá trình dài hơn hoạt động thu mua. Bà Phạm Thị Minh Hải, Giám đốc Công ty TNHH Thành Sơn cho biết doanh nghiệp đang kết hợp với bà con sống trên dãy núi Tây Côn Lĩnh, nơi có những cây chè tự nhiên gắn với sinh kế của người dân. Doanh nghiệp không chỉ thu mua mà còn hướng dẫn cách thu hái, bảo vệ và nuôi dưỡng cây chè.
Bà Phạm Thị Minh Hải, Giám đốc Công ty TNHH Thành Sơn
“Doanh nghiệp đã thu mua cho bà con, cũng như là hướng dẫn cho bà con cách thu hái, cách bảo vệ và nuôi dưỡng cây chè để làm sao cho chúng ta có được cái tài nguyên tốt nhất, để sản xuất ra những sản phẩm có phẩm chất cao, để đưa tới cộng đồng, đưa tới người tiêu dùng của chúng ta”, bà Hải nói.
Cách tiếp cận này cho thấy liên kết chuỗi không chỉ bắt đầu khi sản phẩm được đưa ra thị trường. Nó có thể bắt đầu ngay tại vùng nguyên liệu, từ việc hướng dẫn người dân cách chăm sóc, thu hái và bảo vệ nguồn nguyên liệu.
Theo bà Hải, một trong những điểm nghẽn để sản phẩm của bà con tiếp cận các bên phân phối lớn và thị trường nước ngoài chính là khả năng liên kết.
“Bà con cần phải liên kết với cả các doanh nghiệp để làm sao chúng ta có được một lộ trình, một chặng đường đi cho sản phẩm nó được xuyên suốt. Thế còn nếu như mà bà con tự đi một mình thì chắc chắn là không thể đi được. Nhất là với chính sách ngày nay thì chúng ta cần phải nhìn nhận rõ về chất lượng, nguồn gốc của sản phẩm. Chính vì thế mà bà con cùng với cả các doanh nghiệp sẽ là cái cầu kết nối để đưa được sản phẩm đó đi thực sự”, bà Hải nhấn mạnh.
Từ góc nhìn này, bài toán xúc tiến thương mại với sản phẩm vùng cao không chỉ là tìm thêm một thị trường hay tổ chức thêm một hoạt động quảng bá. Trước khi bước ra thị trường, sản phẩm cần có một chuỗi liên kết đủ khả năng duy trì nguồn nguyên liệu, bảo đảm chất lượng và tổ chức đầu ra.
Đây cũng là lý do vai trò của các đầu mối thu mua, doanh nghiệp và hợp tác xã trở nên quan trọng đối với những vùng sản xuất còn nhỏ lẻ. Nếu từng hộ tự đưa sản phẩm đi tìm thị trường, chi phí kết nối sẽ lớn, sản lượng không ổn định và khả năng đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, nguồn gốc cũng khó đồng đều.
Xúc tiến thương mại nối dài chuỗi giá trị
Từ thực tế vùng chè, có thể thấy xúc tiến thương mại chỉ phát huy hiệu quả khi phía sau hoạt động kết nối thị trường đã có những mắt xích sản xuất và cung ứng tương đối rõ ràng. Trao đổi với Báo Công Thương, ông Nguyễn Tuấn Hưng, Phó Giám đốc Sở Công Thương Tuyên Quang cho biết, ngành Công Thương đang hỗ trợ doanh nghiệp từ khâu sản xuất đến lưu thông, phân phối, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường; đồng thời áp dụng số hóa để hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh.
“Tuyên Quang cũng xây dựng một sàn số để đưa tất cả những sản phẩm đặc trưng, thế mạnh và sản phẩm OCOP của Tuyên Quang lên sàn này và những sàn nổi tiếng của Việt Nam và của thế giới, để giúp cho bà con nông dân, đặc biệt là các doanh nghiệp và hợp tác xã kết nối và tiêu thụ sản phẩm”, ông Hưng cho biết.
Ông Nguyễn Tuấn Hưng, Phó Giám đốc Sở Công Thương Tuyên Quang
Đáng chú ý, hỗ trợ không chỉ dừng ở khâu bán hàng. Theo ông Hưng, ngành Công Thương còn hỗ trợ từ kỹ thuật sản xuất đến mã vùng trồng, bao bì, nhãn mác, nhằm bảo đảm chất lượng và uy tín của sản phẩm khi đưa lên môi trường số.
Với một địa bàn có địa hình chia cắt như Tuyên Quang, hạ tầng thương mại cũng là điều kiện quan trọng để hàng hóa từ vùng sản xuất đến được thị trường. Theo ông Hưng, tỉnh đang lồng ghép các chương trình để đầu tư, mở rộng và hiện đại hóa hệ thống thương mại, nhất là tại vùng sâu; đồng thời hình thành các dự án kêu gọi đầu tư để giúp nông sản đặc trưng có nơi tiêu thụ.
Từ vùng chè đến thị trường, mỗi chủ thể đảm nhận một mắt xích: người dân duy trì vùng nguyên liệu, đầu mối tập hợp sản lượng, doanh nghiệp thu mua và hỗ trợ sản xuất; còn xúc tiến thương mại mở thêm các kênh kết nối và tiêu thụ. Với sản phẩm vùng cao, khi những mắt xích này được nối liền, câu chuyện đầu ra không còn chỉ là việc tìm một nơi bán hàng sau mỗi vụ thu hoạch. Đó là quá trình hình thành một đường đi ổn định hơn cho sản phẩm, từ vùng nguyên liệu đến thị trường.
Tuyên Quang đang đẩy mạnh hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất đưa sản phẩm đặc trưng, sản phẩm OCOP lên môi trường số; đồng thời hỗ trợ từ kỹ thuật sản xuất, mã vùng trồng đến bao bì, nhãn mác. Cùng với việc mở rộng các kênh phân phối, địa phương cũng chú trọng đầu tư, hiện đại hóa hạ tầng thương mại, nhất là tại khu vực vùng sâu, nhằm tạo thêm điều kiện để nông sản có đầu ra và tiếp cận thị trường rộng hơn.