Liên thông dữ liệu an toàn thực phẩm: Không để lô hàng 'mất dấu' trên thị trường

Thực phẩm lưu thông qua nhiều địa bàn nhưng dữ liệu quản lý còn phân tán, gây khó khăn cho kiểm tra, truy xuất và xử lý sự cố. Liên thông thông tin phải phục vụ trực tiếp công tác cảnh báo, ngăn chặn thực phẩm không an toàn.

Dữ liệu phân mảnh, khó kiểm soát toàn bộ chuỗi thực phẩm

Rời nhà máy, một lô nước giải khát có thể trải qua nhiều kho trung chuyển, đại lý, siêu thị trước khi đến tay người tiêu dùng. Nhà sản xuất lưu thông tin nguyên liệu, ngày sản xuất và kết quả kiểm nghiệm; đơn vị vận chuyển quản lý chứng từ giao nhận; nhà phân phối theo dõi hàng nhập, hàng xuất. Nếu dữ liệu nằm trong các hệ thống riêng biệt, cơ quan chức năng sẽ mất thêm thời gian xác định đường đi của sản phẩm khi phát hiện nguy cơ mất an toàn thực phẩm.

Khó khăn tăng lên khi sản phẩm được phân phối tại nhiều tỉnh, thành phố. Cơ quan chức năng phát hiện vi phạm ở địa phương này nhưng chưa xác định được lượng hàng đã chuyển tới địa phương khác; quá trình xác minh, cảnh báo và thu hồi có thể kéo dài trong khi sản phẩm vẫn lưu thông trên thị trường.

Lực lượng Quản lý thị trường tăng cường kiểm soát mặt hàng sữa.

Lực lượng Quản lý thị trường tăng cường kiểm soát mặt hàng sữa.

Trình bày Tờ trình dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) tại Quốc hội ngày 24/10/2026, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan nhận diện bất cập của hệ thống quản lý hiện nay là "dữ liệu còn phân mảnh, chưa hệ thống hóa từ trung ương đến địa phương".

Theo Bộ trưởng, sau hơn 15 năm thi hành, Luật An toàn thực phẩm đã bộc lộ những hạn chế về mô hình quản lý, phương thức kiểm soát và khả năng đáp ứng các hình thức kinh doanh mới. Dự thảo luật gồm 9 chương, 74 điều, đề xuất quản lý nguy cơ trên toàn bộ chuỗi cung ứng, tăng cường hậu kiểm và xây dựng hệ thống dữ liệu thống nhất. Hệ thống dự kiến tích hợp thông tin về vòng đời sản phẩm, cơ sở sản xuất, kinh doanh, đơn vị thử nghiệm, lịch sử thanh tra, kiểm tra và các vụ ngộ độc thực phẩm.

Trước đó, tại cuộc họp báo ngày 1/10/2026, Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế Vũ Mạnh Hà cho biết, dự thảo luật hướng tới khắc phục phương thức "kiểm soát từng khâu riêng lẻ", chuyển sang quản lý toàn bộ chuỗi cung ứng thực phẩm dựa trên mức độ nguy cơ.

Dự thảo thể chế hóa bốn chính sách được Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 184/NQ-CP ngày 9/7/2026, gồm quản lý an toàn thực phẩm theo nguy cơ trên chuỗi cung ứng; đổi mới cơ chế kiểm tra thực phẩm trên thị trường; xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia liên thông và nâng cao hiệu quả quản lý thức ăn đường phố, bếp ăn tập thể.

Theo phương án được trình, Bộ Y tế là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm; các bộ và chính quyền địa phương thực hiện nhiệm vụ theo phân công.

Tuy nhiên, phân định rõ thẩm quyền mới giải quyết được trách nhiệm quản lý. Nếu dữ liệu kiểm nghiệm, công bố sản phẩm, nhập khẩu, lưu thông và xử lý vi phạm chưa được kết nối, cơ quan chức năng vẫn phải xác minh nhiều lần cùng một hồ sơ. Doanh nghiệp có thể phải cung cấp lại những thông tin đã nộp, trong khi cơ quan quản lý thiếu dữ liệu tổng hợp để đánh giá lịch sử tuân thủ, nhận diện nguy cơ và phối hợp xử lý vi phạm trên toàn chuỗi cung ứng.

Liên thông dữ liệu phải phục vụ kiểm tra, cảnh báo và truy xuất

Ngày 30/9/2026, Bộ Công Thương ban hành Thông tư số 63/2026/TT-BCT quy định về Cơ sở dữ liệu thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ, có hiệu lực từ ngày 15/11/2026. Thông tư quy định việc tạo lập, cập nhật, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu phục vụ quản lý công nghiệp thực phẩm, chất lượng hàng hóa, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc.

Theo Thông tư, Cục Công nghiệp chủ trì hướng dẫn nghiệp vụ, xác định nhu cầu và tổ chức khai thác dữ liệu phục vụ quản lý ngành. Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số chịu trách nhiệm về hạ tầng kỹ thuật, vận hành, bảo đảm an toàn và kết nối hệ thống. Chính quyền địa phương tổ chức tạo lập, cập nhật dữ liệu thuộc phạm vi quản lý.

Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, Thông tư yêu cầu thiết lập, lưu trữ hồ sơ truy xuất nguồn gốc và có khả năng cung cấp thông tin trong vòng 24 giờ khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu. Hồ sơ phải được lưu tối thiểu 12 tháng sau ngày hết hạn sử dụng đối với sản phẩm có hạn sử dụng và 60 tháng kể từ ngày sản xuất đối với sản phẩm không bắt buộc ghi hạn sử dụng.

Đóng gói các sản phẩm rau tại Hợp tác xã Sản xuất và Kinh doanh dịch vụ nông nghiệp Văn Đức.

Đóng gói các sản phẩm rau tại Hợp tác xã Sản xuất và Kinh doanh dịch vụ nông nghiệp Văn Đức. 

Theo TS. Nguyễn Đức Tài - Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Chống hàng giả và Bảo vệ thương hiệu Việt Nam, Giám đốc Trung tâm Giám sát chất lượng và Phòng chống hàng giả, yêu cầu đặt ra là dữ liệu phải hỗ trợ xác định được từng lô hàng trong quá trình lưu thông. Chẳng hạn, khi phát hiện một lô nước giải khát có dấu hiệu mất an toàn, cơ quan chức năng cần nhanh chóng xác định cơ sở sản xuất, mã lô, kết quả kiểm nghiệm, đơn vị phân phối và những địa điểm đã tiếp nhận sản phẩm. Thông tin cảnh báo phải được chuyển tới các địa phương liên quan để kịp thời xác minh, ngừng phân phối và thu hồi theo thẩm quyền.

Đối với bia, rượu, nước giải khát và thực phẩm chế biến thuộc phạm vi quản lý của ngành Công Thương, cơ sở dữ liệu cần phục vụ kiểm soát nguyên liệu, phụ gia, quy trình đóng gói, bảo quản và lưu thông hàng hóa. Bên cạnh hồ sơ pháp lý của doanh nghiệp, cơ quan quản lý cần theo dõi chất lượng từng lô sản phẩm thông qua kết quả kiểm nghiệm, thông tin truy xuất nguồn gốc và lịch sử vi phạm. Những dữ liệu này là cơ sở để đánh giá mức độ nguy cơ, xác định đối tượng cần tăng cường hậu kiểm và kịp thời xử lý sản phẩm không bảo đảm an toàn.

Tại TP. Hồ Chí Minh, công tác quản lý và truy xuất nguồn gốc thực phẩm đã được triển khai theo chuỗi. Theo báo cáo công tác an toàn thực phẩm 9 tháng năm 2026, thành phố có 8.998 cơ sở tham gia đề án quản lý, nhận diện và truy xuất nguồn gốc thịt heo, thịt gia cầm và trứng gia cầm. Tại hai chợ đầu mối Hóc Môn và Bình Điền, cơ quan chức năng đã giám sát 82.479 lượt xe nhập chợ với tổng số 1.677.747 con heo.

Để nâng cao hiệu quả quản lý, cơ sở dữ liệu cần được cập nhật thống nhất, phân định rõ trách nhiệm cung cấp, khai thác, xử lý thông tin sai lệch và chuyển cảnh báo giữa các cơ quan chức năng. Dữ liệu đã được xác thực cần được kết nối, chia sẻ và sử dụng chung, hạn chế tình trạng doanh nghiệp phải cung cấp nhiều lần cùng một hồ sơ, đồng thời bảo đảm an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu kinh doanh theo quy định pháp luật.

Đối với lực lượng quản lý thị trường, hệ thống cần hỗ trợ tra cứu thông tin lô hàng, lịch sử vi phạm và cảnh báo để phục vụ kiểm tra, lấy mẫu, xác minh nguồn gốc. Người tiêu dùng cũng cần được tiếp cận thông tin sản phẩm và cảnh báo chính thức. Các công cụ như mã QR chỉ phát huy hiệu quả khi dữ liệu được xác thực, cập nhật và có cơ chế xử lý sai lệch.

Hiệu quả liên thông dữ liệu cần được đánh giá bằng thời gian truy xuất lô hàng vi phạm, tốc độ chuyển cảnh báo và kết quả thu hồi thực phẩm không an toàn, thay cho số lượng phần mềm hay hồ sơ được số hóa. Sản phẩm có thể lưu thông qua nhiều địa phương nhưng thông tin về từng lô hàng phải được theo dõi xuyên suốt, giúp cơ quan chức năng xác định rõ trách nhiệm, phát hiện sớm nguy cơ, xử lý kịp thời vi phạm và ngăn chặn thực phẩm không an toàn tiếp tục lưu thông trên thị trường.

Nguyên Thảo

Có thể bạn quan tâm