Đổi mới tư duy quản lý an toàn thực phẩm
Trong 2 ngày 19-20/10, Bộ Y tế phối hợp với Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tổ chức Hội thảo chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về quản lý an toàn thực phẩm. Hội thảo nhằm tập trung chia sẻ kinh nghiệm về xây dựng chính sách, quản lý theo chuỗi, đánh giá nguy cơ, tổ chức bộ máy, ứng dụng công nghệ thông tin và kiểm soát các loại hình kinh doanh thực phẩm mới.
Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của an toàn thực phẩm đối với sức khỏe cộng đồng. Thực phẩm không bảo đảm an toàn có thể gây ngộ độc, các bệnh truyền qua thực phẩm và để lại những hệ lụy lâu dài đối với sức khỏe người dân.
Trong bối cảnh đô thị hóa, phương thức tiêu dùng thay đổi và thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ, công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm đang đứng trước nhiều yêu cầu mới, đòi hỏi đổi mới chính sách, phương thức quản lý và nâng cao trách nhiệm của các chủ thể tham gia thị trường.
Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên phát biểu tại hội thảo.
Theo Thứ trưởng Đỗ Xuân Tuyên, sau gần 16 năm kể từ khi Luật An toàn thực phẩm được ban hành năm 2010, hoạt động sản xuất, chế biến, phân phối và tiêu dùng thực phẩm đã có nhiều thay đổi. Hệ thống phân phối ngày càng đa dạng, từ siêu thị, trung tâm thương mại đến chợ truyền thống, chợ đầu mối và các nền tảng kinh doanh trực tuyến. Thực tiễn này đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý phù hợp với thông lệ quốc tế, khuyến nghị của Ủy ban Tiêu chuẩn Thực phẩm Quốc tế (Codex) và điều kiện đặc thù của Việt Nam.
Thứ trưởng Đỗ Xuân Tuyên cho rằng, mục tiêu xuyên suốt của công tác quản lý là bảo đảm thực phẩm an toàn trước khi đến tay người tiêu dùng. Để thực hiện mục tiêu này, việc hoàn thiện thể chế phải gắn với nâng cao năng lực quản lý, tăng cường kiểm soát nguy cơ và xác định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp trong toàn bộ quá trình sản xuất, kinh doanh.
Đặc biệt, một số vi phạm an toàn thực phẩm xuất phát từ hành vi cố tình không tuân thủ quy định, chạy theo lợi nhuận và đưa sản phẩm không bảo đảm chất lượng ra thị trường. Trong khi đó, một bộ phận người tiêu dùng vẫn ưu tiên sự tiện lợi, giá rẻ mà chưa quan tâm đúng mức đến nguồn gốc, chất lượng sản phẩm.
Từ thực tế này, Thứ trưởng đề cao yêu cầu kết hợp kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm vi phạm với nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp, thay đổi thói quen lựa chọn thực phẩm của người dân, hướng tới xây dựng thị trường thực phẩm an toàn, minh bạch và có trách nhiệm.
Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên; TS. Angela Pratt - Trưởng đại diện WHO tại Việt Nam; TS. Dược sĩ Chu Quốc Thịnh - Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) chủ tọa hội thảo.
Tăng trách nhiệm, nâng hiệu quả giám sát
Thông tin về định hướng sửa đổi Luật An toàn thực phẩm, Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên đề cập 4 nhóm chính sách trọng tâm, hướng tới đổi mới phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả kiểm soát nguy cơ và đáp ứng sự phát triển của thị trường thực phẩm.
Thứ nhất, quản lý an toàn thực phẩm theo chuỗi, dựa trên đánh giá nguy cơ. Thay vì quản lý riêng lẻ từng công đoạn với sự tham gia của nhiều bộ, ngành, định hướng mới tập trung kiểm soát xuyên suốt từ nuôi trồng, sản xuất, chế biến, lưu thông đến tiêu dùng. Đồng thời, áp dụng phương thức quản lý phù hợp với mức độ nguy cơ của từng nhóm sản phẩm. Sản phẩm nguy cơ thấp được xem xét đơn giản hóa thủ tục, trong khi nhóm nguy cơ cao chịu sự kiểm soát chặt chẽ hơn về công bố, thẩm định, kiểm tra và hậu kiểm. Cách tiếp cận này giúp tập trung nguồn lực vào những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro lớn, đồng thời tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tuân thủ pháp luật.
Thứ hai, đổi mới công tác kiểm tra an toàn thực phẩm. Hoạt động kiểm tra chuyển từ dàn trải, xử lý theo từng vụ việc sang quản lý dựa trên đánh giá nguy cơ, tập trung vào sản phẩm và cơ sở có nguy cơ cao. Cùng với tăng cường hậu kiểm đối với hàng hóa lưu thông trên thị trường, các hành vi vi phạm nghiêm trọng phải được xử lý đủ sức răn đe, ngăn chặn tình trạng cố tình vi phạm để trục lợi.
Thứ ba, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý an toàn thực phẩm. Trước sự phát triển của thương mại điện tử và các phương thức kinh doanh trực tuyến, Thứ trưởng đề cao việc ứng dụng công nghệ trong truy xuất nguồn gốc, giám sát lưu thông và kiểm soát chất lượng sản phẩm.
Trọng tâm là xây dựng, kết nối dữ liệu về thành phần, chất lượng, nguồn gốc và chuỗi cung ứng, qua đó nâng cao năng lực phát hiện, cảnh báo nguy cơ và giám sát thực phẩm trên cả thị trường truyền thống lẫn môi trường số.
Thứ tư, tăng cường quản lý thức ăn đường phố và bếp ăn tập thể. Đây là những lĩnh vực tiềm ẩn nguy cơ ngộ độc thực phẩm do hình thức chế biến, kinh doanh đa dạng và điều kiện bảo đảm vệ sinh chưa đồng đều. Việc sửa đổi chính sách cần làm rõ trách nhiệm của cơ sở chế biến, đơn vị cung ứng và đơn vị sử dụng suất ăn, đồng thời tăng cường kiểm soát điều kiện an toàn thực phẩm nhằm chủ động phòng ngừa ngộ độc.
Các đại biểu tham dự hội thảo.
Bên cạnh 4 nhóm chính sách, Thứ trưởng Đỗ Xuân Tuyên đề cập định hướng thống nhất đầu mối quản lý an toàn thực phẩm từ Trung ương đến địa phương, gắn với nâng cao năng lực thực thi và hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan chức năng. Việc hoàn thiện chính sách cần tiếp thu kinh nghiệm quốc tế, phù hợp với khuyến nghị của Ủy ban Tiêu chuẩn Thực phẩm Quốc tế (Codex) và điều kiện thực tiễn Việt Nam. Đồng thời, tăng cường tuyên truyền, nâng cao trách nhiệm tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp và ý thức lựa chọn thực phẩm an toàn của người tiêu dùng.
Tại hội thảo, chuyên gia quốc tế và đại biểu trong nước tập trung chia sẻ kinh nghiệm về xây dựng chính sách, quản lý theo chuỗi, đánh giá nguy cơ, tổ chức bộ máy, ứng dụng công nghệ thông tin và kiểm soát các loại hình kinh doanh thực phẩm mới. Những trao đổi, luận cứ khoa học và kinh nghiệm thực tiễn được chia sẻ tại hội thảo sẽ góp phần hỗ trợ Việt Nam rà soát, hoàn thiện chính sách, pháp luật về an toàn thực phẩm, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và bảo vệ sức khỏe nhân dân.
Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) gồm 76 điều, 9 chương, với các nội dung được xây dựng theo hướng tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về bảo đảm an toàn thực phẩm, đồng thời đáp ứng yêu cầu quản lý trong bối cảnh mới.