Liên kết nhà nước - tư nhân: 'Chìa khóa' phát triển công nghệ cao ở Việt Nam

Khi nhà nước và tư nhân cùng tham gia nghiên cứu, phát triển công nghệ cao sẽ tạo động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Từ kinh nghiệm một số quốc gia

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế quốc gia, đóng góp lớn vào tăng trưởng GDP và tạo việc làm.

Đầu tư phát triển công nghệ cao ở Việt Nam. Ảnh: Q.N

Đầu tư phát triển công nghệ cao ở Việt Nam. Ảnh: Q.N

Kết hợp giữa nhà nước và tư nhân trong nghiên cứu phát triển công nghệ cao là một phương thức đã và đang thực hiện yêu cầu "huy động mọi nguồn lực, khai thác mọi động lực" để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc Việt Nam, đặc biệt trước yêu cầu đặt ra về phát triển kinh tế, xã hội trong kỷ nguyên mới hiện nay.

Kinh nghiệm từ một số quốc gia trên thế giới đã cho thấy sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà nước và tư nhân trong hoạt động nghiên cứu và phát triển khoa học, công nghệ.

Ví dụ như, tại Hàn Quốc, song song với việc tổ chức nghiên cứu khoa học trên cơ sở đầu tư của nhà nước, nước này còn áp dụng nhiều biện pháp để khuyến khích, động viên tư nhân tham gia nghiên cứu và phát triển công nghệ cao. Ngay từ đầu thập niên 80, Hàn Quốc đã từng bước chuyển vai trò chủ đầu tư nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ từ chính phủ sang các hình thức phi chính phủ.

Hàn Quốc đã ban hành “Luật xúc tiến khai thác và phát triển kỹ thuật” để tạo cơ sở pháp lý cho chính sách trên, theo đó các xí nghiệp phải đảm bảo một số yêu cầu như tăng kinh phí cho các hoạt động khai thác và phát triển kỹ thuật của xí nghiệp; thành lập các cơ sở nghiên cứu và các quỹ đầu tư ở các xí nghiệp với nhiệm vụ khai thác, phát triển và ứng dụng công nghệ…).

Hay tại Nhật Bản, đã thực hiện các chương trình tăng cường các dự án đầu tư nghiên cứu và phát triển cho cả khu vực công và tư nhân và đào tạo nguồn nhân lực nghiên cứu và phát triển trình độ cao.

Nhật Bản đã đặc biệt chú trọng đến hoạt động nghiên cứu cơ bản trong nước, trong đó ưu tiên những lĩnh vực công nghệ cao mang tính thương mại cao và đẩy mạnh các hoạt động truyền bá thông tin liên quan đến phát triển công nghệ và chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp và khuyến khích các nhà nghiên cứu thuộc khu vực nhà nước và các trường đại học tham gia vào các hoạt động phát triển công nghiệp công nghệ cao của khu vực tư nhân.  

Để thực hiện nhiệm vụ trên, Chính phủ Nhật Bản đã lập kế hoạch tài trợ và đã dành những nguồn ngân sách từ chính phủ để hỗ trợ cho các dự án nghiên cứu và phát triển: Hội đồng khoa học và công nghệ Nhật Bản đã chi 17 nghìn tỷ yên cho nghiên cứu và phát triển trong giai đoạn 1995-2000 và trong những năm này, kinh phí dành cho hoạt động nghiên cứu và phát triển liên tục được nâng cao, từ 2,3% GDP năm 1995 lên 3,1% năm 2000, năm 2015 với kinh phí là 155 tỷ USD chiếm 3,29% GDP.

Động lực mới phát triển công nghệ cao Việt Nam

Ở Việt Nam, kết hợp giữa nhà nước và tư nhân trong nghiên cứu phát triển công nghệ cao là thể hiện mối quan hệ của những tổ chức, cá nhân ở hai khu vực kinh tế, cùng chia sẻ trách nhiệm, cùng hưởng lợi ích, là động lực phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam.

Kết hợp giữa nhà nước và tư nhân trong nghiên cứu phát triển công nghệ cao được thực hiện ở trong các hình thức đầu tư theo phương thức công - tư như “đầu tư công - quản trị tư”, “đầu tư tư - sử dụng công” và các hình thức hợp tác công tư khác hoặc các tổ chức tư nhân và tổ chức xã hội tham gia cung ứng dịch vụ sự nghiệp công…

Quá trình kết hợp giữa nhà nước và tư nhân trong nghiên cứu phát triển công nghệ cao đang được kỳ vọng sẽ có sự đột phá khi Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân ra đời, mở ra những lĩnh vực mới cho sự kết hợp.

Một là, một số lĩnh vực trước kia gần như được coi là “vùng cấm” tham gia về vốn đối với doanh nghiệp tư nhân, chỉ dành riêng cho doanh nghiệp nhà nước như: Công nghiệp quốc phòng, an ninh, đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị, hạ tầng năng lượng… Nghị quyết 68 của Đảng đã mở rộng sự tham gia của doanh tư nhân (trong đó có lĩnh vực nghiên cứu phát triển công nghệ cao) vào các lĩnh vực chiến lược này.

Hai là, có các chính sách ưu đãi mạnh mẽ để doanh nghiệp tư nhân tham gia vào các lĩnh vực phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia như lĩnh vực nghiên cứu và phát triển (R&D); kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu; quản trị dữ liệu để bảo đảm an ninh và an toàn thông tin….

Ba là, mở ra cơ chế đối với các doanh nghiệp tư nhân dễ dàng tiếp cận nguồn lực đất đai, mặt bằng sản xuất, có ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Những chính sách này đã tạo điều kiện giúp các doanh nghiệp tư nhân mở rộng quy mô, đồng thời, còn tạo nên cơ cấu kinh tế hai tầng: tầng trên là các tập đoàn lớn dẫn dắt, tầng dưới là các doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh năng động.

Để nắm bắt các cơ hội đang mở ra cho phát triển công nghệ cao tại Việt Nam, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải lựa chọn cách tiếp cận chủ động và dài hạn: Đầu tư mạnh vào công nghệ; mở rộng thị trường; nâng cao năng lực quản trị theo chuẩn quốc tế; đa dạng hóa nguồn vốn và xây dựng đội ngũ nhân sự toàn cầu.

Các hình thức đầu tư theo phương thức công - tư như “đầu tư công - quản trị tư”, “đầu tư tư - sử dụng công” và các hình thức hợp tác công tư khác cần tiếp tục được khuyến khích mở rộng để xây dựng và quản lý, vận hành hiệu quả nhất các công trình kết cấu hạ tầng. Tư nhân và các tổ chức xã hội tham gia cung ứng dịch vụ sự nghiệp công  cần tiếp tục được khuyến khích.

Cơ chế hợp tác công - tư trong các lĩnh vực dịch vụ sự nghiệp công có khả năng cạnh tranh cần được mở rộng, nâng cao hiệu quả; chú trọng cơ chế hợp tác về nhân lực, thương hiệu và công nghệ trên cơ sở bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng và nhiệm vụ được giao.

Đặc biệt, đối với doanh nghiệp nhà nước cần thực hiện một số vấn đề mà Nghị quyết 79-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước đã xác định: Khuyến khích doanh nghiệp nhà nước đầu tư, liên kết với các doanh nghiệp khác trong chuỗi giá trị thuộc lĩnh vực kinh doanh chính hoặc các doanh nghiệp công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số nhằm hình thành các doanh nghiệp, nhóm liên kết doanh nghiệp tiên phong, dẫn dắt, làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, phát huy lợi thế, sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực xã hội, tránh chồng chéo, cạnh tranh không lành mạnh, bảo đảm lợi ích hài hoà, tạo động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Nghiên cứu phát triển công nghệ cao là một yếu tố quyết định trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững, không chỉ giúp doanh nghiệp cải tiến sản phẩm mà còn tạo ra những đổi mới có giá trị cho xã hội và nền kinh tế. 

TS. Lại Trần Tùng - TS. Vũ Đình Thuận
Học Viện Kỹ thuật Quân sự, Bộ Quốc Phòng

Có thể bạn quan tâm