Huy động nguồn lực công nghệ cao
Trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, công nghệ cao ở Việt Nam được hình thành bằng cách thông qua quá trình nghiên cứu và phát triển công nghệ trong nước (kết quả nghiên cứu từ vốn từ ngân sách nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước) và chuyển giao công nghệ từ thị trường trong và ngoài nước.

Hoạt động nghiên cứu, sản xuất sản phẩm công nghệ cao. Ảnh: Quỳnh Nga
Huy động nguồn lực công nghệ cao là một phương cách để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội sau 40 năm đổi mới đất nước bởi công nghệ cao là sản phẩm của quá trình đổi mới sáng tạo, thể hiện năng lực nghiên cứu, phát triển công nghệ và khả năng ứng dụng vào sản xuất nhằm tạo ra các sản phẩm vượt trội về chất lượng, hiệu quả sử dụng, thân thiện với môi trường, có giá trị gia tăng cao, góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.
Trong những năm qua, nhà nước đã kiến tạo nhằm tạo dựng môi trường thuận lợi cho nghiên cứu và phát triển công nghệ cao bằng việc đề ra các chương trình, dự án và cơ chế chính sách phát triển công nghệ cao.
Cụ thể, năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã đề ra Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020 và năm 2012, Chính phủ đề ra Kế hoạch thực hiện chương trình này. Theo đó, chương trình gồm 3 chương trình thành phần, trong đó có: Chương trình phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao do Bộ Công Thương chủ trì và Chương trình nghiên cứu, đào tạo và xây dựng hạ tầng kỹ thuật công nghệ cao do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì.
Năm 2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 347/QĐ-TTg về việc Phê duyệt chương trình phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao thuộc chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao, trong đó đề ra Chương trình phát triển ưu tiên một số ngành công nghiệp công nghệ cao gồm: Công nghiệp công nghệ thông tin; công nghiệp sản xuất thiết bị tự động hóa; công nghiệp công nghệ sinh học; công nghiệp vật liệu mới.
Ngoài ra, còn có một số đề tài đã triển khai thuộc Chương trình nghiên cứu, đào tạo và xây dựng hạ tầng kỹ thuật công nghệ cao do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì và dự án trong Chương trình phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao do Bộ Công Thương chủ trì bắt đầu triển khai thực hiện từ năm 2015.
Tính đến hiện nay, công nghệ cao ở Việt Nam được khuyến khích phát triển theo Quyết định 38/2020/QĐ-TTg ngày 30/12/2020 về Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển (trong đó, có 99 công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển).
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành cuối năm 2024 đã nhấn mạnh yêu cầu "phát triển nhanh và bền vững, từng bước tự chủ công nghệ, nhất là công nghệ chiến lược", đồng thời đặt nền móng cho các chương trình đầu tư, phát triển và hợp tác công nghệ quốc gia.
Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg về Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược. Theo đó, danh mục công nghệ chiến lược gồm 10 nhóm công nghệ chiến lược bao quát nhiều lĩnh vực then chốt gồm: Công nghệ số (trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, bản sao số, điện toán đám mây, điện toán biên, internet vạn vật và chuỗi khối); công nghệ mạng di động thế hệ sau; công nghệ robot và tự động hóa; công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến; công nghệ năng lượng và vật liệu tiên tiến; công nghệ chip bán dẫn; công nghệ an ninh mạng và lượng tử; công nghệ biển, đại dương và lòng đất; công nghệ hàng không và vũ trụ; công nghệ đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị.
Đồng thời, với chính sách chi ngân sách, Việt Nam cũng có nhiều cơ chế như ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, tiền thuê đất… nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho khoa học, công nghệ nói chung và công nghệ cao nói riêng.
Doanh nghiệp nhà nước dẫn dắt, mở đường
Trong những năm gần đây, các doanh nghiệp Việt Nam đã bắt đầu ý thức việc đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ sẽ giúp cho doanh nghiệp làm chủ công nghệ nhập khẩu cũng như bắt tay vào việc nghiên cứu sản phẩm, dịch vụ mới.

Các nhóm nghiên cứu tại Viettel hiện đang tập trung vào những lĩnh vực tiên tiến nhất của mạng lõi 5G. Ảnh: Quỳnh Nga
Điển hình là Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) - doanh nghiệp công nghệ hàng đầu của cả nước, đã và đang chủ động và tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW được Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Trong đó, doanh nghiệp đẩy mạnh đầu tư vào hoạt động nghiên cứu và phát triển, với trọng tâm là các công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, IoT, Cloud và 5G/6G, nhằm tạo cơ sở cho đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Kết quả là VNPT đã đi đầu ứng dụng công nghệ 4.0, công nghệ AI. Trong giai đoạn tiếp theo, VNPT tiếp tục khẳng định là tập đoàn hàng đầu làm chủ các công nghệ trong lĩnh vực trên. Tập đoàn tiếp tục có sự đầu tư bài bản, có lộ trình, có chiều sâu vào khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ AI, xây dựng được các nền tảng AI mở "Make in Việt Nam" 100% để hướng tới phát triển nhanh, bền vững, tự chủ và đủ tầm cạnh tranh với thế giới, hướng tới đạt trình độ khu vực và quốc tế, có khả năng xuất khẩu công nghệ, sản phẩm trí tuệ nhân tạo Việt Nam ra thị trường quốc tế.
Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) cũng điển hình trong nghiên cứu và phát triển công nghệ. Các nhóm nghiên cứu tại Viettel hiện đang tập trung vào những lĩnh vực tiên tiến nhất của mạng lõi 5G với những công nghệ đòi hỏi tiêu chuẩn khắt khe, hứa hẹn sẽ tạo ra thêm nhiều sáng chế và tri thức mới trong giai đoạn tới.
Đặc biệt, Dự án Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Viettel được đầu tư 10.000 tỷ đồng trên diện tích 13 ha tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc dự kiến hoàn thành năm 2030 với định hướng phục vụ nghiên cứu phát triển sản phẩm quân sự, dân sự và lưỡng dụng; đồng thời là hạ tầng quan trọng cho chiến lược công nghiệp công nghệ cao cũng như nhiệm vụ quốc phòng - an ninh của Viettel, phù hợp chủ trương và định hướng của Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng.
Công nghệ cao ở Việt Nam đã được huy động chuyển giao từ nhiều nguồn khác nhau, từ các cá nhân có ý tưởng công nghệ, doanh nghiệp; doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, ươm tạo công nghệ; tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ thông qua quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được tạo ra trong nước, trong đó nổi bật, chủ yếu từ các tập đoàn đa quốc gia (MNC) sang doanh nghiệp trong nước.
Trong đó, điển hình là Tập đoàn Samsung đầu tư ở tỉnh Bắc Ninh và Thái Nguyên, trong đó với sự xuất hiện của 3 công ty con thuộc Tập đoàn Samsung Hàn Quốc đầu tư ở tỉnh Bắc Ninh có quy mô rất lớn: Công ty TNHH Samsung Electrocnics Việt Nam (SEV); Công ty TNHH Samsung Display Bắc Ninh (SDV); Công ty TNHH Samsung SDI Việt Nam (SDIV).
Ngoài ra, đã thu hút được một số dự án công nghệ cao ở các khu công nghệ cao. Trong đó, Khu công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh (SHTP) đã là điểm đến lý tưởng của nhiều dự án, tập đoàn công nghệ cao trên thế giới, trong đó có thể kể đến số lượng lớn các nhà đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia như: Tập đoàn Intel - Hoa Kỳ; Tập đoàn Nidec - Nhật Bản; Tập đoàn Samsung - Hàn Quốc; Tập đoàn Nipro - Nhật Bản…
Khu công nghệ cao Hoà Lạc ngoài sự xuất hiện của những nhà đầu tư lớn trong nước như: Vingroup, Viettel, VNPT, FPT, Hanwha…; các tập đoàn kinh tế nước ngoài như: Công ty Hanwha - Nhật Bản, đầu tư dự án sản xuất linh kiện động cơ máy bay; Công ty Nidec - Nhật Bản, đầu tư dự án sản xuất các loại mô - tơ thế hệ mới không gây tiếng động và thân thiện với môi trường sử dụng trong các sản phẩm IoT, robot...).
Sau hơn 10 năm kể từ khi Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao được ban hành, từ năm 2012 đến tháng 1/2025, theo số liệu của Bộ Khoa học và Công nghệ, Việt Nam đã có 99 tổ chức hoạt động công nghệ cao, trong đó có 72 doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp công nghệ cao và 27 doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận dự án ứng dụng công nghệ cao sản xuất sản phẩm công nghệ cao.
Trong đó, các tổ chức ứng dụng công nghệ cao ở Việt Nam phát triển tập trung chủ yếu ở một số tỉnh, thành phố như TP. Hồ Chí Minh; TP. Hà Nội; tỉnh Bắc Ninh, Thái Nguyên, Bình Dương… Trong đó, TP. Hồ Chí Minh là địa phương điển hình trong phát triển khu công nghệ cao (SHTP), tỉnh Bắc Ninh, Thái Nguyên với thành tựu là thu hút được những dự án có vốn đầu tư nước ngoài quy mô lớn, nổi bật là các dự án của Tập đoàn Samsung, Hàn Quốc...
Trong kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam, để phát triển kinh tế - xã hội đất nước, cần phát huy mọi nguồn lực và sức mạnh của đại đoàn kết dân tộc. Huy động nguồn lực công nghệ cao ở Việt Nam trong những năm vừa qua đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, có vai trò tạo nền tảng đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng hai con số và vượt qua bẫy thu nhập trung bình.




