Kiểm toán đầu tư công cần nhìn vào giá trị đồng vốn

Quy mô đầu tư công ngày càng lớn đặt ra yêu cầu kiểm toán không chỉ kiểm soát chi đúng, mà còn phải đánh giá đồng vốn tạo ra giá trị gì.

Quy mô đầu tư công ngày càng lớn

Quy mô đầu tư công ngày càng lớn đặt ra yêu cầu không chỉ kiểm soát việc sử dụng nguồn vốn đúng quy định, mà còn phải đánh giá được giá trị kinh tế - xã hội mà mỗi dự án tạo ra. Theo PGS,TS. Bùi Thị Ngọc, Trưởng phòng Tài chính - Kế toán, Trường Đại học Thủy Lợi, hoạt động kiểm toán cần chuyển từ tư duy “kiểm tra sổ sách” sang “đánh giá giá trị”, tức không chỉ trả lời đồng vốn đã được chi đúng hay chưa mà quan trọng hơn là đã tạo ra giá trị gì cho nền kinh tế và người dân.

Theo PGS,TS. Bùi Thị Ngọc, dấu ấn rõ nhất trong phát triển hạ tầng những năm qua nằm ở hạ tầng giao thông, đặc biệt là đường bộ cao tốc. Nếu khoảng 20 năm trước, cả nước mới có hơn 1.000 km cao tốc thì riêng giai đoạn 2021-2025 đã hoàn thành và thông xe khoảng 2.025 km, gấp gần 2 lần số km xây dựng trong 20 năm trước đó cộng lại. Riêng năm 2025 hoàn thành 1.491 km. Đến cuối năm 2025, tổng chiều dài đường bộ cao tốc đưa vào khai thác hoặc thông tuyến chính đạt khoảng 3.345 km, vượt mục tiêu 3.000 km mà Đại hội XIII của Đảng đề ra.

Cùng với đường bộ, Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển hạ tầng đường sắt, trong đó có đường sắt cao tốc, đường sắt đô thị, đồng thời mở rộng nội hàm hạ tầng sang năng lượng, viễn thông và nền tảng số. Những thay đổi này, có ý nghĩa quan trọng đối với việc mở rộng không gian phát triển.

"Một tuyến cao tốc không chỉ rút ngắn thời gian đi lại mà còn đưa những địa phương trước đây nằm ngoài các trục kinh tế chính vào phạm vi kết nối, tạo điều kiện hình thành các cực tăng trưởng và khu công nghiệp mới dọc tuyến. Đất đai và lao động ở những khu vực trước đây ít lợi thế có thêm cơ hội tham gia vào chuỗi giá trị", PGS,TS. Bùi Thị Ngọc cho hay.

PGS,TS. Bùi Thị Ngọc, Trưởng phòng Tài chính - Kế toán, Trường Đại học Thủy Lợi.

PGS,TS. Bùi Thị Ngọc, Trưởng phòng Tài chính - Kế toán, Trường Đại học Thủy Lợi.

Bên cạnh đó, hạ tầng đồng bộ cũng góp phần giảm chi phí logistics và nâng năng lực cạnh tranh. Khi hệ thống giao thông kết nối thông suốt hơn, vốn, hàng hóa và lao động có thể lưu chuyển nhanh hơn, với chi phí thấp và độ an toàn cao hơn. Ngoài ra, hạ tầng tạo điều kiện tăng cường liên kết vùng, khi cao tốc kết nối với cảng biển, sân bay, ga đường sắt; vùng nguyên liệu kết nối với vùng chế biến và cửa ngõ xuất khẩu. Chính tính kết nối và lan tỏa này mới là giá trị dài hạn của hạ tầng.

Giai đoạn 2026-2030 được bà Ngọc nhìn nhận là giai đoạn bản lề đối với phát triển hạ tầng Việt Nam, với kỳ vọng hệ thống đường bộ cao tốc cơ bản hoàn chỉnh, tạo bước ngoặt cho ngành đường sắt, đồng thời tiếp tục phát triển hạ tầng hàng không, cảng biển, hạ tầng số, năng lượng và hạ tầng phục vụ chuyển đổi xanh.

Tuy nhiên, cùng với những kết quả đạt được, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng vẫn còn những điểm nghẽn. Trong đó, giải phóng mặt bằng là vấn đề được nhắc đến nhiều. Một số dự án trọng điểm dù đã bố trí đủ vốn, hoàn tất thiết kế kỹ thuật nhưng chưa thể triển khai đồng loạt do vướng giá đất bồi thường, thiếu quỹ tái định cư và chậm bàn giao mặt bằng sạch. Điều này khiến nhà thầu không thể thi công liên tục, phát sinh chi phí và kéo dài tiến độ.

Bà Ngọc cũng chỉ ra tình trạng vốn được bố trí lớn nhưng khả năng hấp thụ chưa theo kịp. Nguyên nhân có thể đến từ công tác dự báo, xây dựng kế hoạch chưa sát thực tế, chưa lường hết rủi ro; thời tiết cực đoan làm gián đoạn thi công; một số địa phương còn lúng túng trong tổ chức thực hiện quy hoạch và thủ tục đầu tư. Trong khi đó, thể chế và tiêu chuẩn kỹ thuật có lúc chưa theo kịp thực tiễn triển khai.

Qua kiểm toán, những bất cập như chậm tiến độ, điều chỉnh tăng tổng mức đầu tư, thiếu tính đồng bộ, liên thông giữa các công trình, hiệu quả khai thác thấp hơn kỳ vọng và nguy cơ lãng phí ở nhiều khâu tiếp tục được chỉ ra. Theo bà Ngọc, những phát hiện này cho thấy lãng phí không nên chỉ được hiểu là các khoản chi sai, chi khống hay thất thoát. Nguồn lực bị chậm đưa vào sử dụng, công trình chậm phát huy công năng cũng là lãng phí.

"Một công trình được đầu tư hàng nghìn tỷ đồng nhưng chậm đưa vào khai thác ba năm đồng nghĩa xã hội mất đi ba năm lợi ích từ công trình, đồng thời phải gánh thêm chi phí vốn trong khoảng thời gian đó. Vì vậy, chậm tiến độ thực chất là một dạng lãng phí nguồn lực kinh tế", bà Ngọc đánh giá.

Đo hiệu quả thay vì chỉ kiểm tra tiền đã chi đúng

Theo PGS,TS. Bùi Thị Ngọc, những vấn đề được phát hiện qua hoạt động kiểm toán không nằm ở một khâu riêng lẻ mà trải dài trong toàn bộ chu trình dự án, từ chuẩn bị đầu tư, thẩm định, bố trí vốn, giải phóng mặt bằng, đấu thầu, thi công, nghiệm thu đến vận hành khai thác. Đáng chú ý, tồn tại một khoảng cách giữa tính tuân thủ và tính hiệu quả: có dự án đúng quy trình, đủ thủ tục nhưng khi vận hành lại không đạt mục tiêu đề ra. Đây là phần mà kiểm toán tuân thủ đơn thuần khó có thể chạm tới và là lý do kiểm toán hoạt động ngày càng cần thiết.

Quy mô đầu tư công ngày càng lớn đặt ra yêu cầu kiểm toán không chỉ kiểm soát chi đúng, mà còn phải đánh giá đồng vốn tạo ra giá trị gì.

Quy mô đầu tư công ngày càng lớn đặt ra yêu cầu kiểm toán không chỉ kiểm soát chi đúng, mà còn phải đánh giá đồng vốn tạo ra giá trị gì.

Nhìn sâu hơn vào nguyên nhân, vị chuyên gia cho rằng, chất lượng khâu chuẩn bị đầu tư là một trong những vấn đề gốc rễ. Áp lực phải sớm khởi công, phải có công trình chào mừng đôi khi khiến khảo sát, nghiên cứu khả thi được thực hiện nhanh, gọn, dẫn tới bỏ qua một số khâu quan trọng. Trong khi đó, đây lại là khâu có vai trò quyết định đối với hiệu quả của cả dự án.

Một nguyên nhân khác là hạn chế về dữ liệu và năng lực dự báo. Việc dự báo nhu cầu vận tải, lưu lượng, tăng trưởng vùng cần nền tảng dữ liệu dài hạn, đáng tin cậy và được cập nhật, trong khi nền tảng dữ liệu còn phân tán và dự báo đôi khi thiếu khách quan. Bên cạnh đó là những hạn chế về thể chế, phối hợp giữa quy hoạch ngành, quy hoạch vùng và quy hoạch địa phương; những vướng mắc kéo dài trong giải phóng mặt bằng; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật có lúc chưa theo kịp tốc độ triển khai.

Cơ chế trách nhiệm và động lực cũng được bà đề cập. Trong đầu tư công, thành tích thường được ghi nhận qua các mốc khởi công, khánh thành, trong khi hiệu quả khai thác thực tế lại bộc lộ sau nhiều năm. Sự lệch pha giữa thời điểm ra quyết định và thời điểm hệ quả xuất hiện có thể làm suy giảm động lực cân nhắc kỹ ở khâu đầu. Cùng với đó, tâm lý e ngại trách nhiệm khiến một số nơi chậm xử lý, chờ hướng dẫn, dẫn tới chậm giải ngân.

Đáng chú ý, theo PGS,TS. Bùi Thị Ngọc, đầu tư công còn thiếu một khâu đánh giá sau đầu tư. Việc quyết toán mới chủ yếu xác nhận tiền đã chi đúng hay chưa, trong khi ít khi quay lại đánh giá sau 3-5 năm vận hành xem dự án có đạt các mục tiêu đã cam kết trong báo cáo nghiên cứu khả thi hay không. Nếu thiếu khâu này, hệ thống sẽ không có vòng phản hồi và những sai lệch trong dự báo có thể tiếp tục lặp lại ở các dự án sau.

Với kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 khoảng 8,22 triệu tỷ đồng, vấn đề bà Ngọc đặt ra không chỉ là giải ngân mà còn là hiệu quả đầu tư. Nếu chỉ nhìn ở góc độ giải ngân thì đó là câu chuyện tiêu tiền đúng hạn; còn nhìn từ góc độ hiệu quả là phải trả lời được nguồn lực ấy tạo ra gì cho nền kinh tế và người dân.

Để đo lường, bà đề cập khung 3 chữ E gồm: tính kinh tế (Economy), tính hiệu quả (Efficiency) và tính hiệu lực (Effectiveness), đồng thời xem xét các chiều cạnh kinh tế - xã hội. Tính kinh tế tập trung vào việc nguồn lực có được sử dụng tiết kiệm hay không, thông qua các chỉ số như suất đầu tư, mức chênh lệch giữa tổng mức đầu tư ban đầu và điều chỉnh, mức độ đội vốn và tỷ lệ tiết kiệm qua đấu thầu. Tính hiệu lực xem xét dự án có đạt mục tiêu đề ra hay không. Còn tính hiệu quả tập trung vào mối quan hệ giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu về, trong đó phân tích chi phí, lợi ích là công cụ quan trọng.

"Đối với một dự án hạ tầng giao thông, giá trị mang lại có thể được lượng hóa qua tiết kiệm chi phí vận hành phương tiện và logistics; tiết kiệm thời gian đi lại của hành khách và hàng hóa; giảm chi phí tai nạn giao thông; giảm phát thải và các tác động môi trường", PGS,TS. Bùi Thị Ngọc khẳng định.

Từ cách tiếp cận đó, hoạt động kiểm toán cũng cần thay đổi. Vị chuyên gia cho rằng, cần tăng tỷ trọng kiểm toán hoạt động để đánh giá hiệu quả; chuyển từ hậu kiểm sang kiểm toán theo suốt vòng đời dự án, đặc biệt với các dự án quan trọng quốc gia quy mô lớn. Kiểm toán cần tham gia từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, tập trung vào chất lượng dự báo nhu cầu và cơ sở xác lập tổng mức đầu tư, đồng thời hình thành thông lệ kiểm toán sau khai thác khoảng 3-5 năm để đối chiếu kết quả thực tế với cam kết ban đầu.

Bên cạnh đó, thay vì chỉ kiểm toán từng dự án riêng lẻ, cần chuyển sang kiểm toán theo chuỗi, theo vùng và theo chương trình để đánh giá tính đồng bộ, liên thông giữa các công trình. Với quy mô 8,22 triệu tỷ đồng và hàng nghìn dự án, phương pháp chọn mẫu thủ công khó bảo đảm tính bao quát. Vì vậy, cần đẩy mạnh kiểm toán số, khai thác dữ liệu lớn, kết nối với hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư công, ứng dụng viễn thám, mô hình thông tin công trình và các mô hình phân tích rủi ro.

Theo PGS,TS. Bùi Thị Ngọc, kiểm toán cũng không nên dừng ở kết luận đúng, sai và kiến nghị xử lý tài chính. Giá trị lớn hơn nằm ở việc chỉ ra nguyên nhân gốc rễ và kiến nghị sửa đổi thể chế, đồng thời theo dõi việc thực hiện các kiến nghị.

"Khi đánh giá một công trình, dự án, bên cạnh tuân thủ, chi phí, hiệu quả triển khai, mức tiết kiệm qua đấu thầu và suất đầu tư, cần xem xét công trình có hoàn thành đúng khối lượng, tiến độ, chất lượng, chi phí và thực sự được đưa vào khai thác hay không. Sau đó là khả năng phát huy công năng, kết nối với hệ thống hạ tầng xung quanh và tác động thực tế đối với nền kinh tế, người dân, như tiết kiệm thời gian, chi phí vận tải, giảm chi phí logistics, thu hút đầu tư, tạo việc làm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ thiết yếu.

Đặc biệt, cần lượng hóa tổn thất do vốn nằm chờ, công trình chậm đưa vào khai thác hoặc dự án dở dang kéo dài. Đây là những dạng lãng phí không thể hiện trên chứng từ nhưng có giá trị thực. Hiệu quả cũng cần được nhìn trong suốt vòng đời công trình, bởi một công trình nhanh xuống cấp do thiếu bảo trì cũng là một dạng lãng phí nguồn lực", PGS,TS. Bùi Thị Ngọc nhấn mạnh.

PGS,TS. Bùi Thị Ngọc, Trưởng phòng Tài chính - Kế toán, Trường Đại học Thủy Lợi: "Trong giai đoạn mới, Kiểm toán nhà nước cần chuyển từ vị trí người kiểm tra sổ sách sang người đánh giá giá trị, từ câu hỏi tiền đã chi đúng chưa sang câu hỏi tiền ấy đã tạo ra được gì".

Lê Na

Có thể bạn quan tâm