Nhiều góp ý từ thực tiễn sản xuất và truy xuất nguồn gốc
Chỉ còn vài tháng trước thời điểm Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) chính thức được áp dụng, việc hoàn thiện hướng dẫn thực hiện đối với ngành cao su đang được đẩy nhanh. Tại Hội thảo tham vấn góp ý dự thảo tài liệu Hướng dẫn tuân thủ quy định EUDR cho ngành cao su Việt Nam, các doanh nghiệp, chuyên gia và địa phương đều thống nhất cần sớm ban hành tài liệu hướng dẫn, song cũng đề nghị tiếp tục rà soát để bảo đảm tính thống nhất, khả thi và phù hợp với thực tiễn sản xuất.
Hướng dẫn thực hiện quy định EUDR đối với ngành cao su đang được hoàn thiện trong bối cảnh thời gian chuẩn bị không còn nhiều. Những góp ý từ địa phương, doanh nghiệp và chuyên gia đều hướng tới mục tiêu chung: quy định phải thống nhất, khả thi và giảm tối đa chi phí tuân thủ. Ảnh minh họa
Một trong những vấn đề được doanh nghiệp quan tâm là phạm vi áp dụng đối với các mã HS của sản phẩm cao su. Bà Trần Thị Thúy Hoa - Giám đốc Công ty TNHH quản lý tuân thủ CMO Việt Nam cho rằng, dự thảo cần cân nhắc việc hướng dẫn đối với mã HS 4002.80 (cao su hỗn hợp). Theo bà Hoa, loại sản phẩm này có tới khoảng 95% thành phần là cao su thiên nhiên. Nếu không có hướng dẫn từ sớm, doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm theo mã HS này có thể không chuẩn bị hồ sơ tuân thủ quy định EUDR, dẫn đến phát sinh rủi ro khi phía nhập khẩu truy xuất sau này.
Bên cạnh đó, cần thống nhất cách sử dụng thuật ngữ "lô" thay cho "mảnh" hoặc "khoảnh" trong toàn bộ tài liệu hướng dẫn. Bởi trong thực tế quản lý, các doanh nghiệp đều sử dụng khái niệm "vườn cao su" để chỉ toàn bộ diện tích của doanh nghiệp, còn bên trong được chia thành nhiều "lô". Cách gọi này vừa phù hợp với thuật ngữ chuyên ngành "land plot" của EUDR, vừa thống nhất với cách thể hiện trong nhiều hồ sơ đất đai hiện nay.
Một nội dung khác được nhiều đại biểu đồng tình là không nên đặt quá nhiều yêu cầu kỹ thuật đối với các hộ trồng cao su nhỏ lẻ. Theo bà Hoa, trong thực tế, nông hộ chỉ cần cung cấp thông tin về chủ sử dụng và vị trí vườn cây. Toàn bộ việc đo đạc polygon, xây dựng hồ sơ kỹ thuật và lập báo cáo giải trình nên do doanh nghiệp chế biến hoặc doanh nghiệp nhập khẩu phối hợp với các đơn vị tư vấn thực hiện.
"Mô hình này hiện đã được nhiều chuỗi cung ứng áp dụng. Nhà nhập khẩu chịu trách nhiệm giải trình nên họ chủ động đầu tư, hướng dẫn từ doanh nghiệp chế biến, đại lý đến tận hộ dân. Nhờ đó, nông hộ không phải thực hiện các yêu cầu kỹ thuật quá phức tạp, giúp quá trình triển khai khả thi hơn", bà Hoa chia sẻ.
Không chỉ doanh nghiệp, nhiều địa phương cũng kiến nghị làm rõ một số nội dung để bảo đảm cách hiểu và cách thực hiện thống nhất trên cả nước. Bà Đinh Thị Phương Khanh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Tây Ninh cho rằng, định nghĩa về "mất rừng" cần được rà soát kỹ hơn. Theo góp ý, nếu chỉ quy định mất rừng là chuyển đổi sang đất nông nghiệp thì chưa phản ánh đầy đủ bản chất của khái niệm này. Địa phương cũng đề nghị hướng dẫn chi tiết hơn về phương pháp xác định tọa độ đối với các lô dưới 4 ha. "Nếu quy định chỉ cần lấy một điểm tọa độ thì cần hướng dẫn rõ điểm đó được xác định ở đâu trong lô đất, tránh mỗi địa phương áp dụng một cách khác nhau, gây khó khăn khi doanh nghiệp chứng minh hồ sơ", bà Khanh nêu ý kiến.
Các địa phương miền núi như Sơn La và Điện Biên cũng chia sẻ nhiều kinh nghiệm thực tế. Theo đại diện Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Sơn La, phần lớn diện tích cao su trên địa bàn được hình thành từ giai đoạn 2007-2009 theo hình thức người dân góp đất với doanh nghiệp, vì vậy việc đáp ứng yêu cầu về không chuyển đổi rừng cơ bản không gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, địa phương vẫn mong muốn sớm có hướng dẫn chính thức để thống nhất cách xây dựng cơ sở dữ liệu và truy xuất nguồn gốc.
Trong khi đó, bà Chu Thị Thanh Xuân, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Điện Biên, cho biết tỉnh hiện có hơn 5.000 ha cao su, chủ yếu là vùng nguyên liệu tập trung do doanh nghiệp quản lý. Phần lớn diện tích đều có hồ sơ pháp lý đầy đủ, tạo thuận lợi cho việc xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc.
Tuy nhiên, đại diện Điện Biên cũng đề nghị bổ sung quy định về cập nhật dữ liệu khi vùng nguyên liệu có biến động, làm rõ nguyên tắc ưu tiên sử dụng nguồn dữ liệu chính thức trong trường hợp có sự khác biệt giữa bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng rừng, ảnh vệ tinh và dữ liệu GPS. Địa phương đồng thời kiến nghị xây dựng cơ chế chia sẻ dữ liệu giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước nhằm giảm chi phí đầu tư và tránh phát sinh nhiều hệ thống dữ liệu riêng lẻ.
Đồng bộ cách làm để ngành cao su sẵn sàng vào cuộc
Giải đáp các ý kiến tại hội thảo, ông Nguyễn Vinh Quang, Chuyên gia phân tích chính sách của Tổ chức Forest Trends, đại diện ban soạn thảo cho biết, nguyên tắc xây dựng hướng dẫn là bám sát quy định của EUDR, không yêu cầu doanh nghiệp thực hiện nhiều hơn những gì Liên minh châu Âu quy định. Về đề xuất bổ sung mã HS 4002.80, Ban soạn thảo khẳng định EUDR chỉ áp dụng đối với các mã HS được liệt kê trong Phụ lục I của quy định. Mã HS 4002.80 hiện không nằm trong danh mục này nên chưa thuộc phạm vi điều chỉnh.
Đối với khái niệm "mất rừng", Ban soạn thảo cho biết, quy định của EUDR chỉ xem xét trường hợp chuyển đổi rừng sang mục đích sản xuất nông nghiệp, bởi đây là hoạt động tạo ra các sản phẩm thuộc phạm vi điều chỉnh của quy định. Liên quan đến các trường hợp biến động vùng nguyên liệu, Ban soạn thảo nhấn mạnh mọi thay đổi như tách thửa, thay đổi chủ sử dụng đất hay điều chỉnh diện tích đều phải được cập nhật và đánh giá rủi ro. Nếu không chứng minh được tính tuân thủ, sản phẩm từ khu vực đó sẽ phải loại khỏi chuỗi cung ứng sang EU. Đối với vấn đề lưu trữ dữ liệu, Ban soạn thảo khuyến nghị doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng nên chủ động lưu giữ hồ sơ tối thiểu 5 năm để thuận lợi khi đối chiếu hoặc cung cấp cho các đối tác khác trong tương lai.
Ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cho rằng, ngành cao su có lợi thế hơn nhiều ngành hàng khác khi gần một nửa diện tích là cao su đại điền do doanh nghiệp quản lý, giúp việc truy xuất nguồn gốc thuận lợi hơn. Tuy nhiên, khoảng 50% diện tích còn lại thuộc khu vực tiểu điền vẫn là thách thức lớn.
Mặc dù tỷ trọng xuất khẩu cao su trực tiếp sang EU không lớn, nhưng nhiều sản phẩm xuất sang các thị trường trung gian như Trung Quốc sau đó tiếp tục được chế biến và xuất khẩu vào châu Âu. Vì vậy, nếu không đáp ứng EUDR ngay từ đầu chuỗi cung ứng, doanh nghiệp Việt Nam vẫn có nguy cơ bị truy xuất và mất thị trường. Do đó, ông Nguyễn Quốc Mạnh đề nghị các địa phương đẩy mạnh tuyên truyền để người dân hiểu vai trò của truy xuất nguồn gốc, đồng thời tiếp tục gửi góp ý để hoàn thiện dự thảo hướng dẫn trước khi ban hành chính thức. Việc sớm hoàn thiện một bộ hướng dẫn thống nhất, dễ áp dụng được kỳ vọng sẽ giúp doanh nghiệp giảm chi phí tuân thủ, hạn chế rủi ro trong truy xuất nguồn gốc và duy trì khả năng tiếp cận thị trường EU trong bối cảnh các yêu cầu về phát triển bền vững ngày càng khắt khe.
Theo kế hoạch, toàn bộ ý kiến góp ý sẽ được tiếp thu trước ngày 10/7 để hoàn thiện tài liệu, hướng tới ban hành bộ hướng dẫn chính thức trong tháng 7/2026, tạo cơ sở cho các địa phương và doanh nghiệp triển khai đồng bộ trước khi EUDR có hiệu lực.