Báo cáo FTA Index 2024 cho biết: Hình thức phổ biến thông tin được doanh nghiệp tiếp cận nhiều nhất là báo chí, truyền hình (64,5%) và website (51,1%). Các hội nghị, hội thảo (44%) và đào tạo, tập huấn (31,5%) cũng được đánh giá là những kênh truyền thông thông tin hiệu quả.

Hình thức phổ biến thông tin được doanh nghiệp tiếp cận nhiều nhất là báo chí, truyền hình (64,5%) và website (51,1%). Trong khi đó, hình thức ấn phẩm bản in chỉ chiếm tỷ lệ thấp (7,2%), cho thấy xu hướng số hóa thông tin ngày càng phổ biến hơn trong tiếp cận thông tin FTA.
Tháng 4/2025, Bộ Công Thương đã phối hợp với Văn phòng Chính phủ tổ chức Lễ công bố Bộ chỉ số đánh giá kết quả thực hiện các Hiệp định thương mại tự do của các địa phương - FTA Index năm 2024.
Lễ công bố Bộ chỉ số FTA Index không chỉ đánh dấu một bước tiến quan trọng trong công tác triển khai hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước mà còn tạo nền tảng vững chắc để nâng cao hiệu quả thực thi hiệu quả các hiệp định thương mại tự do (FTA); đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp, địa phương tốt hơn trong quá trình tham gia thương mại quốc tế và chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Kết quả khảo sát cho thấy Sở Công Thương là kênh phổ biến thông tin về FTA chủ yếu tại các địa phương, được lựa chọn bởi phần lớn doanh nghiệp (59,3%). Đây cũng là cơ quan được giao nhiệm vụ đầu mối thực thi các FTA tại địa phương.
Ngoài ra, Sở Thông tin và Truyền thông và Sở Kế hoạch và Đầu tư (khi chưa sát nhập) cũng là 2 cơ quan có tỷ lệ cao trong việc tuyên truyền về các FTA đến doanh nghiệp, với tỷ lệ tương ứng là 23% và 19,5%.

Các hội nghị, hội thảo (44%) và đào tạo, tập huấn (31,5%) cũng được đánh giá là những kênh truyền thông thông tin hiệu quả. Trong khi đó, hình thức ấn phẩm bản in chỉ chiếm tỷ lệ thấp (7,2%), cho thấy xu hướng số hóa thông tin ngày càng phổ biến hơn trong tiếp cận thông tin FTA.
Về tình hình nắm bắt các văn bản pháp luật được ban hành để thực thi các cam kết FTA của doanh nghiệp: Đối với các quy định về biểu thuế ưu đãi đặc biệt theo các FTA, có 30% doanh nghiệp đã hiểu rõ nhưng chưa bị tác động, 23,9% doanh nghiệp hiểu rõ và bị tác động, 21,1% doanh nghiệp mới chỉ nghe nói, 16,6% doanh nghiệp chưa hiểu rõ và 8,5% doanh nghiệp không biết về các văn bản.
Trong khi đó, đối với các quy định về quy tắc xuất xứ, 20,5% doanh nghiệp hiểu rõ nhưng chưa bị tác động, 11,1% doanh nghiệp hiểu rõ và bị tác động, 13,8% doanh nghiệp có nghe nói, 22,6% doanh nghiệp chưa biết rõ và 32% doanh nghiệp không biết về các văn bản.
Đối với các quy định khác được nội luật hóa, có 29,6% doanh nghiệp hiểu rõ nhưng chưa bị tác động, 28,1% doanh nghiệp hiểu rõ và đã bị tác động, 19,7% doanh nghiệp có nghe nói và 15,4% doanh nghiệp chưa hiểu rõ.

Về chỉ số thành phần về thực hiện quy định pháp luật để thực thi FTA đánh giá mức độ khác biệt giữa các tỉnh, thành về mức độ tiếp cận của các doanh nghiệp đối với các văn bản pháp luật được ban hành để thực hiện các cam kết theo các FTA. Kết quả tính toán Khánh Hòa là tỉnh có điểm số cao nhất với 8,69 điểm, tiếp theo trong Top 10 là các tỉnh Thanh Hóa, Quảng Bình, Cà Mau, Ninh Bình, Thái Nguyên, Trà Vinh, Bình Dương, Hà Giang và Kiên Giang.

Cũng theo kết quả khảo sát từ FTA Index năm 2024, cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước đánh giá rất cao hiệu quả từ các chương trình, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng FTA.
Cụ thể, kết quả khảo sát cho thấy, có 34,1% doanh nghiệp đánh giá hoạt động hỗ trợ chính sách của cơ quan quản lý nhà nước, địa phương (cụ thể là của Bộ Công Thương, Sở Công Thương các tỉnh, thành phố) ở mức “rất hiệu quả” và “hiệu quả”.
Với chính sách hỗ trợ doanh nghiệp kết nối với doanh nghiệp FDI tại Việt Nam có tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá “hiệu quả” và “rất hiệu quả” cao nhất với tỷ lệ 33%; tiếp theo là chính sách hỗ trợ ứng phó các biện pháp phòng vệ thương mại, xây dựng và bảo vệ thương hiệu với tỷ lệ 32%.
Chính sách hỗ trợ ứng dụng khoa học công nghệ và hỗ trợ tiếp cận tín dụng có tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá “hiệu quả” và “rất hiệu quả” thấp nhất với tỷ lệ chỉ 28%.

Chia theo loại hình doanh nghiệp, doanh nghiệp FDI tận dụng hiệu quả nhất các chính sách hỗ trợ, đặc biệt trong tận dụng FTA (34,79% đánh giá “Hiệu quả”, 5,50% đánh giá “Rất hiệu quả”) và kết nối với doanh nghiệp FDI (35,16% doanh nghiệp đánh giá “Hiệu quả”, 6,13% đánh giá “Rất hiệu quả”).
Trong khi đó, doanh nghiệp nhà nước đạt tỷ lệ đánh giá “Hiệu quả” cao ở một số chương trình như tận dụng FTA (37,50%), nhưng tỷ lệ “Rất hiệu quả” tương đối thấp. Chẳng hạn trong các chương trình ứng dụng khoa học công nghệ và nguồn vốn, tiếp cận tín dụng, không có doanh nghiệp nào đánh giá “Rất hiệu quả”.
Các doanh nghiệp rất quan tâm đến các chương trình và chính sách hỗ trợ dành riêng cho tận dụng FTA với tỷ lệ 78,3% doanh nghiệp cho rằng “rất cần thiết” và “cần thiết”. Các chương trình và chính sách hỗ trợ dành riêng cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cũng nhận được sự quan tâm rất lớn khi có tới gần 80% doanh nghiệp cho rằng “rất cần thiết” và “cần thiết”.

Ngoài ra, các chương trình xử lý vấn đề nội tại của doanh nghiệp như vốn, công nghệ... hay các chương trình khác nhận được sự quan tâm ít hơn, với khoảng 75% doanh nghiệp cho rằng “rất cần thiết” và “cần thiết”.
Theo loại hình doanh nghiệp, doanh nghiệp nhà nước có nhu cầu cao nhất đối với các chương trình hỗ trợ. Ví dụ, đối với chương trình tận dụng FTA, 66,67% đánh giá “Cần thiết” và 20% “Rất cần thiết”. Trong khi đó, doanh nghiệp ngoài nhà nước cũng thể hiện nhu cầu cao ở các chương trình hỗ trợ, đặc biệt là tận dụng FTA với 55,19% đánh giá “Cần thiết” và 21,19% đánh giá “Rất cần thiết”.
Tương tự đối với các loại chương trình/chính sách hỗ trợ còn lại, hầu hết các doanh nghiệp, bất kể loại hình, đều bày tỏ nhu cầu, sự cần thiết cao đối với việc xây dựng các chương trình/chính sách hỗ trợ tận dụng các FTA.
Thực tế, thời gian qua, các Bộ, ngành và các địa phương đều có các biện pháp hỗ trợ dành cho doanh nghiệp khá đa dạng. Tuy nhiên, ông Ngô Chung Khanh - Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên, Bộ Công Thương cho rằng, có nhiều thách thức trong trong thực hiện các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng các FTA, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam.

Ngoài ra, nguồn tiền để triển khai các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp cũng là thách thức lớn. “Những hỗ trợ bằng tiền hiện nay của chúng ta không phải là quá nhiều và còn tản mác, chưa nhất quán được với nhau. Do đó, cần thống nhất được các nguồn lực còn đang tương đối hạn chế để trở thành một nguồn lực thống nhất nhằm tận dụng hiệu quả hơn”, ông Khanh nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, hỗ trợ nhưng phải đảm bảo phù hợp với các cam kết, phải nhất quán từ Trung ương xuống địa phương. Bởi vì thực tế cho thấy nhiều địa phương hỗ trợ rất đa dạng, nhưng các biện pháp hỗ trợ cần không bị trùng lắp, không bị chồng chéo và phải kết hợp được với nhau. Trung ương phải kết hợp với địa phương trong hỗ trợ doanh nghiệp.



