Chuẩn hóa dinh dưỡng học đường, chăm lo thể chất thế hệ tương lai

Nâng cao chất lượng dinh dưỡng học đường là giải pháp quan trọng nhằm cải thiện thể chất, tầm vóc và sức khỏe của trẻ em, góp phần phát triển nguồn nhân lực trong tương lai.

3 điểm "nghẽn" cần tháo gỡ

Dinh dưỡng học đường giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển thể chất, trí tuệ và sức khỏe của trẻ em, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai. Chuẩn hóa bữa ăn bán trú, bảo đảm an toàn thực phẩm và hình thành thói quen ăn uống lành mạnh là những giải pháp cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục và tạo nền tảng cho sự phát triển toàn diện của trẻ.

Tại chương trình sinh hoạt chuyên đề "Dinh dưỡng học đường và giải pháp chuẩn hóa bữa ăn học đường" ngày 10/10/2026 do Tập đoàn TH tổ chức, TS.BS Bùi Thị Mai Hương - Phó Giám đốc Trung tâm Dịch vụ Khoa học kỹ thuật dinh dưỡng thực phẩm, Viện Dinh dưỡng Quốc gia nhấn mạnh tầm quan trọng của chế độ dinh dưỡng hợp lý đối với trẻ em trong độ tuổi học đường. Đây là giai đoạn cơ thể phát triển mạnh về chiều cao, hệ xương, cơ bắp, hệ miễn dịch và khả năng nhận thức, đòi hỏi chế độ ăn đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng.

TS.BS Bùi Thị Mai Hương - Phó Giám đốc Trung tâm Dịch vụ Khoa học kỹ thuật dinh dưỡng thực phẩm, Viện Dinh dưỡng Quốc gia trao đổi tại chương trình.

TS.BS Bùi Thị Mai Hương - Phó Giám đốc Trung tâm Dịch vụ Khoa học kỹ thuật dinh dưỡng thực phẩm, Viện Dinh dưỡng Quốc gia trao đổi tại chương trình.

Theo số liệu Tổng điều tra Dinh dưỡng toàn quốc giai đoạn 2019 - 2020, tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ em từ 5 - 19 tuổi tăng từ 8,5% năm 2010 lên 19% năm 2020. Riêng khu vực thành thị, tỷ lệ này đạt 26,8%. Ở chiều ngược lại, số liệu của Viện Dinh dưỡng Quốc gia năm 2020 ghi nhận tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi tại vùng miền núi phía Bắc lên tới 37,4%. Tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng cũng cần được quan tâm, trong đó tỷ lệ thiếu vitamin A được ghi nhận ở mức 9,5% và thiếu kẽm là 58%.

Tình trạng thiếu dinh dưỡng và thừa cân, béo phì cùng tồn tại ở các nhóm trẻ em đòi hỏi việc xây dựng khẩu phần phải phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng theo từng độ tuổi, thể trạng và điều kiện sinh hoạt.

TS.BS Bùi Thị Mai Hương phân tích, giai đoạn từ 6 - 18 tuổi có vai trò quan trọng đối phát triển thể chất, chế độ ăn cần bảo đảm nhu cầu năng lượng, cân đối các nhóm chất dinh dưỡng và cung cấp đầy đủ những vi chất thiết yếu như canxi, sắt, kẽm và vitamin D.

Đối với học sinh bán trú, bữa trưa thường đóng góp khoảng 30 - 35% nhu cầu năng lượng hằng ngày. Tuy nhiên, việc đánh giá chất lượng bữa ăn cần xem xét cả cơ cấu chất đạm, chất béo, chất bột đường, vitamin và khoáng chất, thay vì chỉ căn cứ vào mức năng lượng cung cấp.

Từ thực trạng này, TS.BS Bùi Thị Mai Hương xác định 3 điểm nghẽn cần tháo gỡ để chuẩn hóa bữa ăn học đường. Trước hết là khoảng trống về tiêu chuẩn dinh dưỡng có tính bắt buộc. Theo chuyên gia, Việt Nam chưa ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia mang tính bắt buộc pháp lý về dinh dưỡng học đường, việc xây dựng thực đơn tại nhiều cơ sở giáo dục hiện vẫn phụ thuộc vào kinh nghiệm của cán bộ cấp dưỡng hoặc đơn vị cung cấp suất ăn. Trong khi đó, tính toán nhu cầu dinh dưỡng theo từng độ tuổi đòi hỏi kiến thức chuyên môn, dữ liệu về thành phần thực phẩm và những tiêu chí đánh giá thống nhất.

Thứ hai là thiếu nhân lực chuyên trách về dinh dưỡng, ở nhiều trường học, nhiệm vụ xây dựng thực đơn, quản lý an toàn thực phẩm và theo dõi sức khỏe học sinh đang do nhân viên y tế trường học hoặc cán bộ phụ trách bán trú kiêm nhiệm. Trong điều kiện nhân lực còn hạn chế, việc đánh giá giá trị dinh dưỡng của khẩu phần, theo dõi tình trạng dinh dưỡng và điều chỉnh thực đơn theo nhu cầu của học sinh gặp nhiều khó khăn.

Thứ ba liên quan đến sự chênh lệch về cơ sở vật chất và nguồn lực tài chính giữa các địa phương. Một số trường vùng sâu, vùng xa còn thiếu không gian bếp ăn, nguồn nước sạch và trang thiết bị bảo quản thực phẩm. Khả năng cung ứng nguyên liệu và mức kinh phí tổ chức bữa ăn cũng có sự khác biệt. Những hạn chế này ảnh hưởng đến khả năng tổ chức bữa ăn đáp ứng đồng thời yêu cầu dinh dưỡng, an toàn thực phẩm và điều kiện thực tế của nhà trường.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với Tập đoàn TH thực hiện mô hình điểm về dinh dưỡng học đường, mang lại những kết quả tích cực, là cơ sở thực tiễn cho việc chuẩn hóa bữa ăn học đường.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với Tập đoàn TH thực hiện mô hình điểm về dinh dưỡng học đường, mang lại những kết quả tích cực, là cơ sở thực tiễn cho việc chuẩn hóa bữa ăn học đường.

Hoàn thiện tiêu chuẩn, nhân rộng kinh nghiệm từ mô hình bữa ăn học đường

Trước những khó khăn được nhận diện, chuyên gia đề xuất 3 nhóm giải pháp gồm hoàn thiện tiêu chuẩn và cơ chế quản lý, ứng dụng công nghệ gắn với phát triển nhân lực dinh dưỡng, bảo đảm tài chính bền vững và tăng cường phối hợp liên ngành.

Theo TS.BS Bùi Thị Mai Hương, việc xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về dinh dưỡng học đường cần dựa trên nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị của từng nhóm tuổi. Các tiêu chí phải xác định rõ yêu cầu về năng lượng, cơ cấu các chất dinh dưỡng, hàm lượng vi chất thiết yếu và giới hạn đối với đường tự do, muối, chất béo bão hòa trong khẩu phần.

Đối với công tác xây dựng thực đơn, TS.BS Bùi Thị Mai Hương kiến nghị tăng cường hỗ trợ chuyên môn cho nhà trường, phát triển ngân hàng thực đơn và ứng dụng phần mềm tính toán khẩu phần. Các công cụ này có thể hỗ trợ cân đối năng lượng, chất đạm, chất béo, vitamin và khoáng chất trong từng bữa ăn, đồng thời giúp lựa chọn thực phẩm phù hợp với điều kiện kinh tế tại địa phương.

Đối với những địa bàn khó khăn, yêu cầu chuẩn hóa bữa ăn cần gắn với chính sách hỗ trợ kinh phí, cải thiện cơ sở vật chất nhà bếp, trang thiết bị bảo quản và điều kiện cung cấp nước sạch. Việc lựa chọn thực phẩm cũng cần phù hợp với nguồn cung tại địa phương và khả năng tổ chức của nhà trường.

ThS Hà Thị Phương - Viện Dinh dưỡng TH chia sẻ kinh nghiệm trong tổ chức bữa ăn học đường.

ThS Hà Thị Phương - Viện Dinh dưỡng TH chia sẻ kinh nghiệm trong tổ chức bữa ăn học đường.

Tại chương trình, ThS Hà Thị Phương - Quản lý dinh dưỡng thuộc Viện Dinh dưỡng TH chia sẻ về mô hình "Bữa ăn học đường bảo đảm dinh dưỡng hợp lý kết hợp tăng cường hoạt động thể lực cho trẻ em, học sinh, sinh viên Việt Nam". Mô hình do Tập đoàn TH khởi xướng, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế và Viện Dinh dưỡng triển khai trong năm học 2020 - 2021 tại 10 tỉnh, thành phố, đại diện cho 5 vùng sinh thái trên cả nước.

Theo bà Hà Thị Phương, quá trình triển khai được thực hiện qua các bước khảo sát, đánh giá thực trạng, thử nghiệm điều kiện thực hiện, xây dựng giải pháp về bữa ăn, giáo dục dinh dưỡng và hoạt động thể lực. Các nội dung tiếp tục được đánh giá, điều chỉnh dựa trên phản hồi thực tế.

Mô hình được xây dựng với sự tham gia của các chuyên gia dinh dưỡng, thể thao, nhà giáo dục và phụ huynh học sinh.

Bộ thực đơn của mô hình gồm 400 thực đơn, được xây dựng theo tiêu chuẩn dinh dưỡng và điều chỉnh phù hợp với văn hóa ẩm thực, nguồn thực phẩm sẵn có tại địa phương.  Bữa phụ sử dụng sữa tươi và các chế phẩm từ sữa tươi nhằm góp phần cải thiện lượng canxi trong khẩu phần.

Kết quả đánh giá ghi nhận 95,8% trường tham gia nhận định mô hình hiệu quả hoặc rất hiệu quả. Tỷ lệ học sinh tiểu học có nhận thức đầy đủ về bữa ăn hợp lý tăng 23,6%. Các kết quả này phản ánh đánh giá trong phạm vi triển khai mô hình điểm, đồng thời cung cấp kinh nghiệm cho việc tổ chức bữa ăn phù hợp với điều kiện của từng cơ sở giáo dục.

Theo các chuyên gia, việc nâng cao chất lượng bữa ăn học đường cần có sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình, ngành y tế và cơ quan quản lý. Công tác tổ chức bữa ăn phải gắn với kiểm soát an toàn thực phẩm, giám sát chất lượng dinh dưỡng và giáo dục thói quen ăn uống lành mạnh cho học sinh.

Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định mục tiêu cải thiện tình trạng dinh dưỡng, kiểm soát thừa cân, béo phì và giảm nguy cơ mắc các bệnh không lây nhiễm. Để thực hiện các mục tiêu này, việc chuẩn hóa bữa ăn học đường cần được triển khai đồng bộ từ hoàn thiện tiêu chuẩn, phát triển nhân lực đến bảo đảm nguồn lực tài chính và điều kiện tổ chức tại cơ sở giáo dục.

Nguyên Thảo

Có thể bạn quan tâm