Chanh leo: Cây làm giàu cho bà con dân tộc thiểu số vùng cao nguyên

Cây chanh leo đang dần trở thành “cây làm giàu” cho nhiều hộ nông dân, trong đó có bà con đồng bào dân tộc thiểu số tại vùng đất đỏ Tây Nguyên.

Hiệu quả kinh tế rõ nét từ cây trồng mới

Những năm gần đây, diện tích chanh leo ở Tây Nguyên tăng nhanh, trở thành vùng sản xuất tập trung lớn nhất cả nước. Riêng tỉnh Đắk Lắk đã hình thành nhiều mô hình trồng chanh leo quy mô hợp tác xã và liên kết doanh nghiệp. Số liệu cho thấy cả nước hiện có hơn 10.000 ha chanh leo, cho sản lượng khoảng 190.000 – 220.000 tấn/năm. Trong đó, Tây Nguyên chiếm phần lớn diện tích.

Chanh leo sinh trưởng tốt trên vùng đất Tây Nguyên. Ảnh minh hoạ

Chanh leo sinh trưởng tốt trên vùng đất Tây Nguyên. Ảnh minh hoạ

Khoảng 80% sản lượng chanh leo được đưa vào chế biến và xuất khẩu, mang về giá trị kim ngạch trên 170 triệu USD/năm. Con số này phản ánh sức hấp dẫn đặc biệt của loại cây trái này. Với bà con nông dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số ở các huyện vùng sâu của Đắk Lắk, cây chanh leo đã giúp nhiều hộ vươn lên thoát nghèo.

Một héc-ta chanh leo nếu canh tác đúng kỹ thuật có thể thu về lợi nhuận gấp nhiều lần so với cây trồng truyền thống. Nhờ thời gian cho thu hoạch ngắn, sản phẩm có thị trường tiêu thụ rộng mở, chanh leo nhanh chóng trở thành lựa chọn ưu tiên của nhiều hộ. Thực tế, nhiều hợp tác xã ở Cư Kuin, Krông Pắc đã chứng minh tính hiệu quả của cây trồng này, khi liên kết với doanh nghiệp xuất khẩu để đảm bảo đầu ra ổn định cho nông dân.

Chính hiệu quả kinh tế cao đã khiến chanh leo được ví như cây “xóa đói giảm nghèo” mới cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời mở ra cơ hội xây dựng thương hiệu nông sản đặc trưng cho Tây Nguyên.

Thách thức và hướng đi bền vững

Dẫu tiềm năng lớn, cây chanh leo vẫn đứng trước không ít khó khăn. Một trong những vấn đề nổi bật là chất lượng giống chưa đồng đều, kỹ thuật canh tác còn thiếu đồng bộ. Tình trạng nông dân trồng theo phong trào, chưa tuân thủ chặt chẽ quy trình kỹ thuật khiến chất lượng sản phẩm không đồng nhất. Mỗi thị trường lại đòi hỏi những tiêu chuẩn riêng, do vậy không phải sản phẩm nào cũng có thể xuất khẩu.

Nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên đang dần thoát nghèo nhờ cây chanh leo. Ảnh minh hoạ: TTXVN

Nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên đang dần thoát nghèo nhờ cây chanh leo. Ảnh minh hoạ: TTXVN

Bên cạnh đó, chế biến sâu còn hạn chế, mới dừng ở mức sơ chế hoặc làm nước ép, trong khi giá trị gia tăng từ các sản phẩm tinh chế như tinh dầu, thực phẩm chức năng hay dược phẩm còn chưa được khai thác đúng mức. Đây chính là nguyên nhân khiến ngành hàng chanh leo chưa phát huy hết tiềm năng.

Trong bối cảnh đó, việc xây dựng chuỗi liên kết sản xuất – tiêu thụ bền vững trở nên đặc biệt quan trọng. Tại các diễn đàn nông nghiệp gần đây ở Đắk Lắk, các chuyên gia và doanh nghiệp đều nhấn mạnh rằng muốn nâng cao giá trị, chanh leo phải gắn với doanh nghiệp chế biến, với hợp tác xã làm cầu nối, để hình thành vùng nguyên liệu đạt chuẩn.

Liên kết giúp bà con yên tâm sản xuất, doanh nghiệp có nguồn nguyên liệu ổn định, còn thị trường xuất khẩu được đảm bảo. Đây là cách để cây chanh leo không rơi vào vòng xoáy “được mùa mất giá”. Đặc biệt, khi đầu ra được định hướng ngay từ khâu sản xuất, nông dân sẽ không còn bị động mà có thể tập trung đầu tư thâm canh, nâng chất lượng trái.

Từ thực tế đơn vị sản xuất, tiêu thụ, theo ông Nguyễn Văn Thái Bình, Giám đốc HTX Nông nghiệp công nghệ cao Xanh Cao Nguyên (Đắk Lắk), cho biết, việc xác định ngay từ đầu thị trường mục tiêu sẽ quyết định sự bền vững của vùng trồng.

Theo ông Bình, khi trồng chanh leo, điều quan trọng đầu tiên là phải xác định rõ thị trường đầu ra. Mỗi thị trường lại có những yêu cầu riêng: Chẳng hạn thị trường EU cần có chứng chỉ, logo và mã số vùng trồng; thị trường Nga lại chuộng quả to, mẫu mã đẹp, ưu tiên đường đi ngắn, chi phí hợp lý; trong khi các thị trường mới mở như Mỹ và Úc lại yêu cầu vừa có hình thức đẹp, vừa phải đảm bảo quy trình chiếu xạ.  Do vậy, để sản xuất bền vững, bà con cần định hướng ngay từ đầu mình sẽ đi vào thị trường nào, từ đó mới xây dựng vùng trồng và quy trình sản xuất phù hợp. 

Ở góc độ quản lý, ông Hoàng Văn Hồng, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, cho rằng, để nắm bắt được cơ hội phát triển lớn, việc tổ chức sản xuất phải đảm bảo chất lượng đồng bộ. Trong quá trình sản xuất, mỗi đơn vị, mỗi chức năng cần thực hiện tốt trách nhiệm của mình, để toàn bộ chuỗi giá trị được vận hành hiệu quả, từ đó mở rộng và giữ vững thị trường xuất khẩu.

Chanh leo được doanh nghiệp đưa vào chế biến sâu nhằm tăng giá trị sản phẩm. Ảnh minh hoạ

Chanh leo được doanh nghiệp đưa vào chế biến sâu nhằm tăng giá trị sản phẩm. Ảnh minh hoạ

Để đi xa hơn, Đắk Lắk cũng đang tính toán đến việc phát triển chế biến sâu. Đây là khâu then chốt để tăng giá trị, từ đó mở rộng thị trường và nâng vị thế của trái chanh leo trên bản đồ nông sản xuất khẩu. Các doanh nghiệp chế biến, với công nghệ hiện đại, sẽ là “bà đỡ” giúp loại trái này bước ra thế giới với nhiều dòng sản phẩm đa dạng.

Có thể thấy, tại vùng đất đỏ Tây Nguyên, cây chanh leo đã khẳng định vị thế là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần thay đổi đời sống cho nhiều hộ dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số. Song, để chanh leo thực sự trở thành “trái vàng” của vùng đất đỏ bazan cần sự liên kết bền chặt giữa nông dân – hợp tác xã – doanh nghiệp, cùng với chiến lược chế biến sâu để gia tăng giá trị.

Với đặc tính dễ trồng, dễ chăm bón, đem lại thu nhập cao, chanh leo đang giúp nhiều bà con dân tộc thiểu số trên vùng đất Tây Nguyên tăng thu nhập, giảm nghèo bền vững.

Hải Linh
Bình luận

Có thể bạn quan tâm