Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 4 tháng năm 2026 đạt hơn 23 tỷ USD

4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt hơn 23 tỷ USD, tăng 5,4%. Tuy nhiên, đà tăng không đồng đều giữa các thị trường và ngành hàng.

Xuất khẩu giữ nhịp tăng, thị trường phân hóa mạnh

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ước tính, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tháng 4/2026 đạt 6,05 tỷ USD, giảm 3,8% so với tháng trước và giảm nhẹ 0,8% so với cùng kỳ năm trước. Dù có dấu hiệu chững lại trong ngắn hạn, tính chung 4 tháng đầu năm, xuất khẩu toàn ngành vẫn đạt 23,04 tỷ USD, tăng 5,4% so với cùng kỳ 2025.

Trong 4 tháng đầu năm, xuất khẩu cà phê đạt 789,3 nghìn tấn với giá trị 3,6 tỷ USD, tăng 15% về khối lượng nhưng giảm 7,8% về giá trị. Ảnh minh họa

Trong 4 tháng đầu năm, xuất khẩu cà phê đạt 789,3 nghìn tấn với giá trị 3,6 tỷ USD, tăng 15% về khối lượng nhưng giảm 7,8% về giá trị. Ảnh minh họa

Trong cơ cấu, nhóm nông sản tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn với 12,16 tỷ USD, tăng 1,5%. Thủy sản đạt 3,59 tỷ USD, tăng 11,9%, là một trong những nhóm có mức tăng trưởng khá. Lâm sản đạt 5,82 tỷ USD, tăng nhẹ 0,8%, trong khi sản phẩm chăn nuôi ghi nhận mức tăng đột biến 45,5%, đạt 245 triệu USD. Đáng chú ý, nhóm đầu vào sản xuất tăng tới 66,2%, phản ánh nhu cầu nguyên liệu phục vụ chế biến, xuất khẩu đang gia tăng mạnh.

Xét theo khu vực thị trường, châu Á tiếp tục là điểm đến lớn nhất của nông, lâm, thủy sản Việt Nam, chiếm 44,1% tổng kim ngạch và tăng 11,5% so với cùng kỳ. Châu Âu và châu Đại Dương duy trì đà tăng lần lượt 3,7% và 19,8%. Ngược lại, xuất khẩu sang châu Mỹ giảm 3,5% và châu Phi giảm sâu tới 26%, cho thấy những khó khăn nhất định tại các thị trường này.

Ở cấp độ quốc gia, Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản vẫn là ba thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm thị phần lần lượt 21,1%, 18,5% và 7%. Trong đó, Trung Quốc tiếp tục là động lực tăng trưởng khi kim ngạch tăng mạnh 28,8%. Nhật Bản tăng nhẹ 1,3%, trong khi Hoa Kỳ giảm 4,8%, phản ánh xu hướng dịch chuyển đơn hàng và sức cầu không đồng đều giữa các thị trường.

Nhiều mặt hàng chủ lực chịu áp lực giá

Diễn biến theo ngành hàng cho thấy sự phân hóa rõ rệt, đặc biệt giữa yếu tố giá và sản lượng. Cà phê là ví dụ điển hình. Trong 4 tháng đầu năm, xuất khẩu cà phê đạt 789,3 nghìn tấn với giá trị 3,6 tỷ USD, tăng 15% về khối lượng nhưng giảm 7,8% về giá trị. Nguyên nhân chủ yếu do giá xuất khẩu bình quân giảm mạnh gần 20% so với cùng kỳ. Các thị trường truyền thống tại châu Âu như Đức, Italia, Tây Ban Nha đều ghi nhận giảm, trong khi Trung Quốc tăng trưởng đột biến.

Tương tự, cao su cũng tăng nhẹ về sản lượng nhưng giảm giá trị do giá xuất khẩu bình quân giảm 3,8%. Gạo thậm chí giảm cả về lượng và giá trị, lần lượt 2,3% và 11,1%, trong bối cảnh giá xuất khẩu bình quân giảm 9%. Điều này phản ánh áp lực cạnh tranh và biến động giá trên thị trường quốc tế.

Ngược lại, một số mặt hàng ghi nhận tăng trưởng tích cực. Rau quả đạt 2,06 tỷ USD, tăng 22,3%, tiếp tục là điểm sáng nhờ nhu cầu cao, đặc biệt tại thị trường Trung Quốc – nơi chiếm tới 51% kim ngạch. Hạt tiêu cũng tăng mạnh cả về lượng và giá trị, lần lượt 29,2% và 20,9%.

Hạt điều giữ được giá xuất khẩu tốt, tăng 1,7% dù khối lượng giảm, trong khi chè tiếp tục gặp khó khi giảm cả lượng và giá trị. Sản phẩm chăn nuôi nổi lên như một điểm sáng mới khi tăng trưởng 45,5%, trong đó xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa tăng hơn gấp đôi.

Thủy sản tiếp tục phục hồi với kim ngạch 3,59 tỷ USD, tăng 11,9%. Động lực chính đến từ thị trường Trung Quốc với mức tăng trên 50%. Ngược lại, xuất khẩu sang Hoa Kỳ giảm 7,4%, cho thấy những khó khăn về nhu cầu và rào cản thương mại.

Đối với gỗ và sản phẩm gỗ, kim ngạch đạt 5,42 tỷ USD, tăng nhẹ 0,4%. Hoa Kỳ vẫn là thị trường lớn nhất nhưng giảm hơn 8%, trong khi Trung Quốc tăng mạnh, góp phần bù đắp một phần sụt giảm.

Ở chiều ngược lại, nhập khẩu nông, lâm, thủy sản tiếp tục tăng nhanh. Báo cáo Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy, tháng 4/2026 ước đạt 5,06 tỷ USD, tăng 19% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đạt 17,65 tỷ USD, tăng 12%.

Hầu hết các nhóm hàng nhập khẩu đều tăng, đặc biệt là nông sản (tăng 16,2%), sản phẩm chăn nuôi (tăng 25,3%) và lâm sản (tăng 24,1%). Đây chủ yếu là các mặt hàng phục vụ chế biến, sản xuất trong nước, cho thấy hoạt động sản xuất đang được duy trì và mở rộng.

Xét theo thị trường, châu Á và châu Mỹ là hai khu vực cung cấp lớn nhất. Hoa Kỳ, Trung Quốc và Brazil là ba nguồn cung chủ yếu, với mức tăng lần lượt 41,7%, 18,5% và 15,3%.

Việc nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu đang đặt ra áp lực đối với cán cân thương mại của ngành. Trong bối cảnh thị trường xuất khẩu tiếp tục phân hóa, giá nhiều mặt hàng chủ lực biến động bất lợi, yêu cầu đặt ra là phải nâng cao giá trị gia tăng, đa dạng hóa thị trường và giảm phụ thuộc vào một số đối tác lớn.

Về dài hạn, xu hướng này cho thấy ngành nông, lâm, thủy sản đang bước vào giai đoạn tái cơ cấu sâu hơn, trong đó chất lượng tăng trưởng, khả năng thích ứng thị trường và kiểm soát chuỗi cung ứng sẽ đóng vai trò quyết định.

4 tháng đầu năm 2026, toàn ngành nông, lâm, thủy sản xuất siêu 5,39 tỷ USD.

Nguyễn Hạnh

Có thể bạn quan tâm