Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh

Tư tưởng độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là nền tảng tư tưởng, vừa định hướng trực tiếp cho mọi hành động trong phát triển kinh tế đất nước.

Nền kinh tế ngày càng vững mạnh

Trong bài viết với tiêu đề “Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường cho chúng ta đi”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ: “Tư tưởng độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục soi sáng con đường phát triển đất nước trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược, chuyển dịch chuỗi cung ứng, cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những biến động sâu sắc của thế giới. Sinh thời, Người luôn nhấn mạnh độc lập dân tộc phải gắn với tự lực, tự cường; phải dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ, hợp tác quốc tế; phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Ngày nay, tư tưởng ấy được phát triển trong yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, có sức chống chịu cao, có năng lực cạnh tranh quốc tế, chủ động hội nhập sâu rộng nhưng không lệ thuộc; phát triển mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; làm chủ những lĩnh vực công nghệ chiến lược; hình thành lực lượng sản xuất mới và phương thức sản xuất mới…”.

Bác Hồ thăm xưởng May X10 (tiền thân của Tổng Công ty May 10) năm 1959. Ảnh tư liệu

Bác Hồ thăm xưởng May X10 (tiền thân của Tổng Công ty May 10) năm 1959. Ảnh tư liệu

Nhìn lại tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc, có thể thấy chiều sâu đặc biệt: độc lập luôn gắn với tự lực, tự cường trên cơ sở biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. “Dựa vào sức mình là chính” nhưng không tách rời hợp tác quốc tế; “tự chủ” nhưng không từ chối hội nhập; “độc lập” nhưng không đối lập với phát triển. Chính sự kết hợp biện chứng đó đã tạo nên sức sống bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh, ngày càng trở nên có giá trị trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng và cạnh tranh ngày càng khốc liệt.

Đến nay, sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam từng bước xây dựng nền kinh tế ngày càng vững mạnh, hội nhập sâu, rộng vào khu vực và thế giới.

Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ thể hiện ở việc giữ vững độc lập, tự chủ trong xác định chủ trương, đường lối, chiến lược phát triển, phát huy tiềm năng, lợi thế của đất nước. Các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể chế hóa thành luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, triển khai thực hiện đạt được nhiều kết quả tích cực. Kinh tế vĩ mô luôn được duy trì ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, tăng trưởng kinh tế, chất lượng tăng trưởng được nâng cao, các cân đối lớn của nền kinh tế được cải thiện.

Hệ thống năng lượng quốc gia phát triển mạnh mẽ, quy mô hệ thống điện vươn lên nhóm 20 nước hàng đầu thế giới và đứng đầu khu vực Đông Nam Á. Cơ cấu năng lượng chuyển dịch theo hướng xanh hơn, bền vững hơn, phù hợp với xu thế toàn cầu.

Xuất nhập khẩu tiếp tục là điểm sáng nổi bật của nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng bình quân 10,9%/năm. Kim ngạch xuất nhập khẩu liên tục xác lập các kỷ lục mới, riêng năm 2025 đạt trên 930 tỷ USD. Thặng dư thương mại được giữ vững ở mức cao, đóng góp tích cực vào cân đối vĩ mô, bổ sung dự trữ ngoại hối và củng cố niềm tin thị trường.

Thị trường trong nước tiếp tục phát triển ổn định, với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 7,7%/năm, thực sự trở thành trụ cột quan trọng của nền kinh tế. Cùng với đó, thương mại điện tử tăng trưởng trên 20%/năm, đưa Việt Nam vào nhóm 10 quốc gia có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới, tạo động lực quan trọng cho kinh tế số và chuyển đổi số doanh nghiệp.

Hội nhập kinh tế quốc tế được triển khai đồng bộ, thực chất, ngày càng hiệu quả. Việc tham gia 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã mở ra không gian thị trường gần 6 tỷ người tiêu dùng, góp phần đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng hiện đại, bền vững.

Xác lập mô hình tăng trưởng mới

Trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, về định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026 – 2030 xác định: “Xác lập mô hình tăng trưởng mới với mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; tạo ra sức sản xuất và phương thức sản xuất mới chất lượng cao, trọng tâm là kinh tế dữ liệu, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực. Xác định các động lực tăng trưởng mới và lấy khoa học, công nghệ là trọng tâm để thúc đẩy, làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống. Hình thành các cực tăng trưởng mạnh, các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị, các đặc khu kinh tế thế hệ mới ngang tầm khu vực và toàn cầu”.

Theo các chuyên gia kinh tế, “xác lập mô hình tăng trưởng mới” với trọng tâm nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng là lời giải trực diện cho một hạn chế kéo dài của nền kinh tế: tăng trưởng dựa vào chiều rộng, phụ thuộc vào vốn, lao động giá rẻ và gia công. Khi giá trị gia tăng thấp, vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu thấp, thì nền kinh tế không thể tự chủ, bởi lợi nhuận, công nghệ và quyền quyết định nằm bên ngoài. Chuyển sang mô hình dựa trên năng suất và giá trị gia tăng vì thế không đơn thuần là nâng cấp, mà là điều kiện để thoát khỏi phụ thuộc.

“Xác lập mô hình tăng trưởng mới” với trọng tâm nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng. Ảnh minh họa: Cấn Dũng

“Xác lập mô hình tăng trưởng mới” với trọng tâm nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng. Ảnh minh họa: Cấn Dũng

Điểm then chốt tiếp theo nằm ở việc xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giữ vai trò động lực. Khi còn phải nhập khẩu công nghệ lõi, thì dù sản xuất mở rộng, nền kinh tế vẫn chưa làm chủ. Việc hình thành phương thức sản xuất mới, phát triển kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn chính là con đường để từng bước chiếm lĩnh các phân khúc có giá trị gia tăng cao, từ đó nâng cao mức độ tự chủ thực chất.

Nghị quyết đồng thời đặt ra yêu cầu hình thành các cực tăng trưởng mạnh, các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị và đặc khu thế hệ mới có tầm khu vực và toàn cầu. Đây là cách tổ chức lại không gian phát triển, tạo ra các đầu tàu nội lực đủ sức dẫn dắt. Một nền kinh tế không thể tự chủ nếu phát triển dàn trải, manh mún. Ngược lại, phải có những trung tâm đủ mạnh về công nghệ, tài chính, công nghiệp và dịch vụ, từ đó lan tỏa và kéo cả hệ thống đi lên.

Đáng chú ý, tư duy này không dừng lại trên văn kiện. Ngày 29/4/2026, dưới sự chủ trì của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, cuộc làm việc với Bộ Tài chính đã đặt ra yêu cầu rất cụ thể: xây dựng và triển khai Đề án về nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế, hoàn thành trong quý III/2026. Đồng thời, phối hợp xây dựng Nghị quyết về mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để trình Hội nghị Trung ương 3. Đây không còn là định hướng mà là mệnh lệnh hành động, với thời hạn rõ ràng, đầu mối rõ ràng, trách nhiệm rõ ràng.

Nâng cao năng lực chống chịu trước các cú sốc

Nền kinh tế Việt Nam có độ mở lớn, mức độ gắn kết sâu với thị trường quốc tế cả về cung và cầu. Mọi biến động từ bên ngoài đều có thể nhanh chóng chuyển hóa thành sức ép nội tại, tác động trực tiếp đến ổn định kinh tế vĩ mô, đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và đến đời sống xã hội. Trong khi đó, năng lực tự chủ của nhiều ngành sản xuất còn hạn chế, sự phụ thuộc vào công nghệ, thiết bị, nguyên vật liệu nhập khẩu vẫn ở mức cao, khiến nền kinh tế đứng trước những rủi ro hiện hữu mỗi khi chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn hoặc tái cấu trúc.

Do đó, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ nổi lên như một yêu cầu mang tính cấp thiết, gắn trực tiếp với mục tiêu phát triển nhanh và bền vững. Kinh tế độc lập, tự chủ củng cố vị thế quốc gia trong một trật tự kinh tế thế giới đang định hình lại theo những quy luật mới.

Độc lập, tự chủ về kinh tế cần được nhận thức đầy đủ. Nền kinh tế có khả năng tự vận hành ổn định trên nền tảng nội lực, đủ năng lực thích ứng linh hoạt với các biến động bên ngoài, duy trì được trạng thái hoạt động bình thường trong mọi tình huống, bảo đảm cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng, an ninh, không bị động, không lệ thuộc trước các yếu tố ngoại sinh.

Ở tầm cao hơn, tự chủ kinh tế gắn chặt với năng lực thể chế và trình độ quản trị quốc gia; một nền kinh tế chỉ có thể tự chủ khi có khả năng thiết kế, vận hành và điều chỉnh hệ thống chính sách phù hợp với điều kiện phát triển của mình. Đồng thời, chủ động tham gia vào hệ thống kinh tế toàn cầu với tư thế nắm vững luật chơi, biết điều chỉnh linh hoạt và tận dụng hiệu quả các cam kết quốc tế nhằm phục vụ lợi ích quốc gia - dân tộc.

Nền tảng của tự chủ trước hết thể hiện ở tiềm lực kinh tế, ở khả năng chống chịu, phục hồi và phát triển trước các cú sốc, ở sức cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm; nhưng yếu tố mang tính quyết định vẫn là con người - nguồn lực trung tâm, chủ thể của mọi quá trình phát triển; một nền kinh tế thiếu đội ngũ nhân lực đủ năng lực làm chủ khoa học, công nghệ, thiếu trình độ quản trị hiện đại, sẽ khó có thể đạt tới trạng thái tự chủ thực chất trong dài hạn.

Trên thế giới, những quốc gia vươn lên mạnh mẽ đều lựa chọn con đường đầu tư bài bản, lâu dài cho giáo dục, khoa học - công nghệ và chiến lược phát triển nhân tài. Đối với Việt Nam, yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ đòi hỏi phải nâng cao chất lượng giáo dục, tăng cường năng lực nghiên cứu, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đồng thời xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao với cách tiếp cận hệ thống, đồng bộ và nhất quán.

Để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, cần khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy trí tuệ, bản lĩnh, đạo đức, tài năng, phẩm chất của con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Hà Trang

Có thể bạn quan tâm