Vĩnh Long: Năng suất, dữ liệu và đổi mới sáng tạo làm nền tảng tăng trưởng

Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, Vĩnh Long đang chuyển từ ứng dụng công nghệ sang tạo giá trị mới, lấy năng suất, dữ liệu và đổi mới sáng tạo làm nền tảng tăng trưởng.

Năng suất từ công nghệ và đổi mới sáng tạo

Thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, tỉnh Vĩnh Long đang từng bước hình thành những động lực tăng trưởng mới, gắn tiến bộ công nghệ với hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội. Định hướng này gắn với mục tiêu duy trì tăng trưởng 2 con số giai đoạn 2026-2030. Địa phương hướng tới nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng thông qua khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI) và khu vực tư nhân.

Vĩnh Long lấy khoa học, công nghệ tạo động lực nâng cao năng suất, chất lượng.

Vĩnh Long lấy khoa học, công nghệ tạo động lực nâng cao năng suất, chất lượng.

Theo ông Nguyễn Quỳnh Thiện - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long, đối với Đồng bằng sông Cửu Long, đưa khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo vào đời sống có ý nghĩa đặc biệt. Vùng có nhiều tiềm năng về nông nghiệp, thủy sản, chế biến, kinh tế biển, năng lượng tái tạo và du lịch, song cũng đối mặt với biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, suy giảm tài nguyên, yêu cầu nâng cao giá trị nông sản, năng suất lao động và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

Sau khi hợp nhất, tỉnh Vĩnh Long có không gian phát triển rộng lớn hơn, tiềm năng và lợi thế đa dạng hơn, nhưng đồng thời phải tổ chức lại nguồn lực và hình thành các động lực tăng trưởng mới. Vì vậy, Vĩnh Long tập trung cụ thể hóa chủ trương của Trung ương, hoàn thiện và tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách hỗ trợ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ. Các chính sách quan trọng đã được tỉnh ban hành, gồm hỗ trợ chuyển giao và đổi mới công nghệ, ứng dụng kết quả nghiên cứu, phát triển thị trường khoa học công nghệ; hỗ trợ nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa; hỗ trợ đăng ký bảo hộ sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu và giống cây trồng mới.

Vĩnh Long gắn Nghị quyết số 57-NQ/TW với đổi mới quản lý, phát triển hạ tầng số, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp.

Vĩnh Long gắn Nghị quyết số 57-NQ/TW với đổi mới quản lý, phát triển hạ tầng số, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long Trần Văn Lâu cho biết, tỉnh chỉ đạo các cấp ủy, chính quyền cần tiếp tục huy động nguồn lực, tháo gỡ điểm nghẽn về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Các ngành, lĩnh vực cần chủ động xây dựng mô hình thí điểm hiệu quả để nhân rộng, đồng thời phát triển, chuẩn hóa, kết nối và khai thác dữ liệu, các nền tảng dùng chung.

Điều quan trọng, triển khai Nghị quyết số 57 không chỉ dừng ở ứng dụng công nghệ hay xây dựng hạ tầng số mà phải tạo ra giá trị mới cho phát triển kinh tế - xã hội. Kết quả cần được thể hiện bằng sản phẩm cụ thể, hiệu quả thực chất, có tác động trong thực tiễn và đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng bền vững của tỉnh Vĩnh Long.

Chuyển đổi số nâng chất lượng phục vụ

Một minh chứng rõ nét cho hướng đi này là kết quả cải cách hành chính. Theo báo cáo công tác kiểm soát thủ tục hành chính quý III/2026 của UBND tỉnh Vĩnh Long, địa phương đạt 97,15/100 điểm, xếp loại xuất sắc, đứng thứ nhất trong số 34 tỉnh, thành phố về Bộ Chỉ số phục vụ người dân, doanh nghiệp theo Quyết định số 766/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Kết quả được ghi nhận trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, hệ thống đã kết thúc đánh giá từ ngày 29/5/2026.

Trong 5 nhóm chỉ số, tỉnh Vĩnh Long có hai nhóm đạt điểm tuyệt đối là công khai, minh bạch (18/18 điểm) và mức độ hài lòng (18/18 điểm). Nhóm dịch vụ trực tuyến đạt 20/22 điểm, trong đó thanh toán trực tuyến đạt 10/10 điểm; nhóm số hóa hồ sơ đạt 21,32/22 điểm và tiến độ, kết quả giải quyết đạt 19,83/20 điểm.

Bí thư Tỉnh ủy Trần Văn Lâu nêu định hướng đến cuối năm 2026, Vĩnh Long phấn đấu trên 80% hồ sơ thủ tục hành chính được xử lý hoàn toàn trực tuyến và trên 90% người dân, doanh nghiệp.

Bí thư Tỉnh ủy Trần Văn Lâu nêu định hướng đến cuối năm 2026, Vĩnh Long phấn đấu trên 80% hồ sơ thủ tục hành chính được xử lý hoàn toàn trực tuyến và trên 90% người dân, doanh nghiệp.

Kết quả trên cho thấy chuyển biến trong cải cách hành chính sau khi sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Tỉnh Vĩnh Long đã gắn Nghị quyết số 57-NQ/TW với đổi mới quản lý, điều hành, phát triển hạ tầng số và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Tuy nhiên, vị trí dẫn đầu cũng đặt ra yêu cầu duy trì chất lượng trong từng hồ sơ. Quý III/2026, toàn tỉnh tiếp nhận 380.279 hồ sơ thủ tục hành chính, trong đó có 357.243 hồ sơ mới. Trong 354.961 hồ sơ đã giải quyết, có 265.544 hồ sơ trước hạn, 86.035 hồ sơ đúng hạn và 3.382 hồ sơ quá hạn, chiếm 0,95%. Cùng kỳ, tỉnh Vĩnh Long tiếp nhận 248 phản ánh, kiến nghị về quy định và hành vi hành chính; đã xử lý 243 trường hợp, còn 5 trường hợp đang trong thời hạn giải quyết. Những con số này cho thấy quy mô công việc của hệ thống hành chính và dư địa nâng chất lượng giải quyết, nhất là thủ tục liên quan đến người dân và doanh nghiệp.

Mới đây, tại hội nghị sơ kết 1 năm 6 tháng thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, Bí thư Tỉnh ủy Trần Văn Lâu nêu định hướng đến cuối năm 2026, Vĩnh Long phấn đấu trên 80% hồ sơ thủ tục hành chính được xử lý hoàn toàn trực tuyến, trên 90% người dân và doanh nghiệp hài lòng với việc giải quyết thủ tục; duy trì việc thực hiện thủ tục không phụ thuộc địa giới hành chính.

Từ mục tiêu này, chuyển đổi số được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với chất lượng quản trị và năng lực cạnh tranh. Những mô hình như trợ lý AI, giải quyết thủ tục trong ngày, hỗ trợ người dân tại nhà nếu được hoàn thiện và nhân rộng sẽ góp phần rút ngắn thời gian, giảm chi phí và nâng trải nghiệm của người dân, doanh nghiệp.

Tỉnh Vĩnh Long đang chuyển trọng tâm từ đầu tư công nghệ đơn thuần sang tạo giá trị bằng công nghệ, dữ liệu và đổi mới sáng tạo. Đây là nền tảng để nâng năng suất, cải thiện chất lượng phục vụ và tạo dư địa cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số giai đoạn 2026-2030.

Khánh Ngọc

Có thể bạn quan tâm