Ngày 4/9, Thường trực Tỉnh ủy Vĩnh Long tổ chức hội nghị nghe Đảng ủy UBND tỉnh Vĩnh Long báo cáo kết quả rà soát quy hoạch bến thủy nội địa, bến cảng và hạ tầng giao thông kết nối đến các bến thủy, bến cảng trên địa bàn tỉnh, đồng thời nghe báo cáo tình hình quản lý, sử dụng đất các cồn, bãi bồi ven sông, ven biển.
Khai thác lợi thế vận tải thủy, tháo điểm nghẽn kết nối
Tại hội nghị, Sở Xây dựng Vĩnh Long báo cáo kết quả rà soát quy hoạch, hiện trạng hệ thống cảng, bến và hạ tầng kết nối. Đây được xem là cơ sở quan trọng để Vĩnh Long xác định những khu vực có lợi thế, ưu tiên nguồn lực đầu tư, từng bước hoàn thiện mạng lưới logistics, nâng cao năng lực vận chuyển hàng hóa.
Quang cảnh tại hội nghị.
Theo quy hoạch, hệ thống cảng, bến thủy nội địa của tỉnh được bố trí chủ yếu dọc các tuyến sông Tiền, sông Cổ Chiên, sông Mang Thít, sông Hàm Luông, sông Hậu cùng các sông, kênh trục quan trọng.
Với mạng lưới sông ngòi dày đặc, tỉnh Vĩnh Long có lợi thế lớn để phát triển vận tải thủy, nhất là đối với các loại hàng hóa có khối lượng lớn như nông sản, vật liệu xây dựng. Việc khai thác hiệu quả lợi thế này không chỉ giúp tăng năng lực vận chuyển mà còn mở rộng khả năng kết nối nội tỉnh và liên vùng trong Đồng bằng sông Cửu Long.
Theo rà soát, trên địa bàn tỉnh có 9 khu bến thuộc hệ thống cảng biển. Đến nay, 4/9 khu bến đã và được đầu tư xây dựng.
Cụ thể, Khu bến Vĩnh Thái đã có cảng, song cỡ tàu tiếp nhận chưa đạt quy hoạch 3.000/5.000 tấn. Khu bến Bình Minh cũng đã có cảng nhưng cỡ tàu tiếp nhận chưa đạt quy hoạch 1.000/20.000 tấn. Bến Cảng tiềm năng Bình Tân chưa có cảng.
Tại Khu bến Duyên Hải - Định An, hiện đã có cảng Trung tâm Điện lực Duyên Hải và Cảng nhà máy nhiệt điện Duyên Hải 2, đồng thời đang đầu tư xây dựng cảng tổng hợp Định An. Khu bến Trà Cú - Kim Sơn chưa có cảng nhưng đã có Giấy chứng nhận đầu tư từ ngày 15/4/2009.
Khu bến Giao Long đã có cảng nhưng cỡ tàu tiếp nhận chưa đạt quy hoạch 3.000/5.000 tấn. Trong khi đó, Khu bến Hàm Luông, Khu bến Thạnh Phú và Khu bến Bình Đại hiện chưa có cảng.
Đối với hệ thống cảng thủy nội địa, theo quy hoạch và hiện trạng, toàn tỉnh có 75 cảng thủy nội địa, gồm 57 cảng hàng hóa và 18 cảng hành khách. Trong số 57 cảng hàng hóa, mới có 9 cảng được đầu tư xây dựng, trong đó 2/9 cảng ngừng hoạt động.
Thực tế cho thấy, một trong những điểm nghẽn lớn hiện nay là hạ tầng giao thông kết nối chưa đồng bộ. Tại một số khu vực, tuyến đường vào cảng còn nhỏ, tải trọng hạn chế hoặc chưa được đầu tư hoàn chỉnh, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả vận chuyển và trung chuyển hàng hóa.
Trong khi đó, phần lớn cảng, bến thủy nội địa do doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư và khai thác. Vì vậy, tiến độ mở rộng, nâng cấp phụ thuộc đáng kể vào năng lực tài chính cũng như nhu cầu khai thác của từng chủ đầu tư.
Hệ thống kho bãi, công trình phụ trợ và khu vực tập kết hàng tại một số nơi chưa đồng bộ, làm hạn chế năng lực tiếp nhận và trung chuyển. Một số cảng, bến được hình thành từ trước, quy mô và vị trí từng phù hợp với nhu cầu tại thời điểm đầu tư nhưng hiện không còn đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển sản xuất, công nghiệp và vận chuyển hàng hóa.
Ưu tiên khu bến tiềm năng, tránh lãng phí nguồn lực
Tại hội nghị, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã báo cáo tình hình quản lý, sử dụng đất các cồn, bãi bồi ven sông, ven biển trên địa bàn tỉnh.
Theo kết quả rà soát, toàn tỉnh có khoảng 124 khu cồn, bãi bồi ven sông, ven biển, với tổng diện tích khoảng 772.099,04 ha. Trong đó, đất cồn có 82 khu, diện tích khoảng 695.316,2 ha, tọa lạc tại địa bàn 34 xã, phường; đất bãi bồi ven sông, ven biển có khoảng 42 khu, diện tích khoảng 76.782,83 ha, tọa lạc tại 26 xã, phường thuộc tỉnh Vĩnh Long.
Ông Trần Văn Lâu - Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long phát biểu tại hội nghị.
Công tác quản lý đất cồn, bãi bồi ven sông, ven biển cơ bản được thực hiện chặt chẽ. Đối với những khu vực ổn định, đủ điều kiện, địa phương từng bước đưa vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để khai thác, cho thuê theo quy định.
Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, ông Trần Văn Lâu - Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long yêu cầu khai thác tốt lợi thế vận tải thủy, kết hợp hài hòa giữa đường thủy và đường bộ nhằm giảm chi phí logistics, giảm áp lực cho hạ tầng đường bộ và nâng cao hiệu quả vận chuyển hàng hóa. Các ngành, địa phương tiếp tục rà soát quy hoạch, xác định rõ những cảng, bến có tiềm năng, hoạt động hiệu quả để ưu tiên đầu tư đến năm 2030 và sau năm 2030. Cùng với đầu tư cảng, bến, cần quan tâm hoàn thiện các tuyến giao thông kết nối với các trục đường chính, qua đó tạo điều kiện thu hút nguồn lực xã hội hóa.
Đối với các khu bến trọng điểm, yêu cầu tập trung tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ nhà đầu tư hoàn thiện thủ tục pháp lý, đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án.
Riêng Khu bến Bình Đại, tỉnh cần nghiên cứu hạ tầng giao thông kết nối để phát huy tiềm năng, thu hút đầu tư, đồng thời tăng cường kêu gọi đầu tư vào các khu bến Giao Long, Hàm Luông và Thạnh Phú.
Một yêu cầu đáng chú ý là rà soát hiệu quả hoạt động của từng cảng, bến; kiểm tra, xử lý các dự án chậm tiến độ, tình trạng giữ đất nhưng không triển khai, qua đó tránh lãng phí nguồn lực và nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Bí thư Tỉnh ủy đề nghị các sở, ngành, địa phương tiếp tục rà soát quy hoạch và hiện trạng quản lý, sử dụng từng khu vực; xác định rõ diện tích, ranh giới, nguồn gốc hình thành và khả năng khai thác của từng khu đất.
Việc rà soát đồng bộ cảng, bến và hạ tầng kết nối sẽ giúp tỉnh Vĩnh Long khai thác hiệu quả lợi thế vận tải thủy, nâng năng lực vận chuyển, giảm chi phí logistics và tăng sức cạnh tranh hàng hóa.