Vì sao E10 được coi là nhiên liệu chuyển đổi xanh?

E10 không chỉ là một loại nhiên liệu mới, mà còn là một giải pháp cho quá trình chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí nhà kính, phát triển bền vững.

Giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính

Xăng sinh học nói chung và E10 nói riêng là một giải pháp trong xu hướng chuyển đổi năng lượng xanh đang diễn ra trên toàn cầu. Việc sử dụng xăng E10 góp phần bảo vệ môi trường, phát triển bền vững, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội và đặc biệt là góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. 

Từ ngày 1/6/2026, xăng E10 đã được triển khai trên phạm vi toàn quốc. Ảnh: Thái Mạnh

Từ ngày 1/6/2026, xăng E10 đã được triển khai trên phạm vi toàn quốc. Ảnh: Thái Mạnh

Lý do xăng E10 được coi là nhiên liệu chuyển đổi xanh, theo Bộ Công Thương, ethanol là nhiên liệu có nguồn gốc từ nguyên liệu có thể tái tạo; tổng phát thải carbon của cả vòng đời từ trồng nguyên liệu, sản xuất cồn và đốt cháy nhiên liệu được coi là cân bằng phát thải carbon (Net zero). Xăng E10 giúp giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính như carbon, HC/VOC.

E10 không chỉ là một loại nhiên liệu mới, mà còn là một giải pháp cho quá trình chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí nhà kính, phát triển bền vững và đặc biệt là góp phần tự chủ và đảm bảo an ninh năng lượng của Việt Nam. Đặc biệt, xăng E10 làm giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính so với xăng khoáng, tùy theo loại xe và điều kiện vận hành, có thể giảm đến 30%.

Với những lợi ích thiết thực, hiện có khoảng 60 quốc gia trên thế giới sử dụng xăng sinh học. Xăng sinh học E10, E15, E20 và cao hơn đã được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Brazil, châu Âu, Trung Quốc, Thái Lan, Philippines… từ nhiều năm trước.

Điển hình tại Mỹ, xăng sinh học đã trở thành một phần quan trọng trong chính sách năng lượng quốc gia suốt nhiều năm qua. Hiện, xăng E10 đã trở thành loại nhiên liệu tiêu chuẩn, chiếm hơn 95% lượng xăng bán ra trên thị trường Mỹ, với sản lượng ethanol khoảng 60 tỷ lít/năm.

Brazil là một trong những quốc gia thực hiện sớm nhất trong việc xây dựng hệ sinh thái nhiên liệu sinh học. Sau khủng hoảng dầu mỏ năm 1973, nước này đã bắt buộc phối trộn ethanol vào xăng với tỷ lệ từ 10-22% trong giai đoạn 1976-1992. Từ năm 2015, các phương tiện tại Brazil đã sử dụng xăng trộn cồn sinh học, với tỷ lệ lên đến 27%, tức xăng E27. Từ tháng 8/2025, Chính phủ quốc gia này đã cập nhật các thủ tục kỹ thuật để nâng tỷ lệ trộn ethanol lên mốc 30%.

Tại khu vực Đông Nam Á, Thái Lan là quốc gia đi đầu trong việc định hướng sử dụng xăng cồn nồng độ cao nhờ tận dụng tốt nguồn sắn và mía đường nội địa. Ở các trạm nhiên liệu ở Thái Lan, dòng xăng E20 (pha 20% ethanol, với xăng RON 95) được phân phối phổ biến và dán nhãn rõ ràng tại các vòi bơm.

Bắt nhịp xu hướng phát triển năng lượng xanh

Việc Việt Nam triển khai xăng sinh học E5 và E10 nhằm nhiều mục tiêu quan trọng. Đó là, góp phần bảo vệ môi trường sống, giảm biến đổi khí hậu; phát triển ngành công nghiệp nhiên liệu sinh học, tạo đầu ra cho các sản phẩm nông, lâm nghiệp nhằm phát triển kinh tế - xã hội; giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch đang dần cạn kiệt, phát triển bền vững; đặc biệt, góp phần tự chủ và đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, ông Lê Việt Cường, Phó Viện trưởng Viện Năng lượng (Bộ Công Thương) nhận định, xăng sinh học góp phần quan trọng trong việc giảm phát thải khí nhà kính, hạn chế ô nhiễm môi trường so với các nguồn nhiên liệu hóa thạch đang dần suy giảm do khai thác kéo dài.

Đây được xem là một trong những bước chuyển dịch năng lượng hợp lý trong điều kiện quan hệ cung - cầu năng lượng sơ cấp của Việt Nam cũng như xu hướng phát triển năng lượng xanh, năng lượng sạch trên thế giới hiện nay.

Đồng thời, việc mở rộng sử dụng xăng sinh học cũng là đóng góp thiết thực của Việt Nam nói chung và mỗi người tiêu dùng nói riêng vào quá trình thực hiện cam kết với cộng đồng quốc tế về mục tiêu giảm phát thải carbon, qua đó khẳng định trách nhiệm và vai trò của Việt Nam trong tiến trình ứng phó biến đổi khí hậu toàn cầu.

“Trong dài hạn, việc thúc đẩy tiêu thụ xăng sinh học tạo nền tảng cho quá trình chuyển đổi năng lượng theo hướng vừa bảo đảm an ninh năng lượng và vừa phát triển kinh tế tuần hoàn” - ông Lê Việt Cường khẳng định. 

Phân tích về thành phần xăng sinh học trong trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, PGS.TS Phạm Hữu Tuyến, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu các Nguồn động lực và Phương tiện tự hành, Trường Cơ khí - Đại học Bách khoa Hà Nội cho biết, xăng sinh học là loại nhiên liệu được tạo ra bằng cách pha trộn xăng khoáng truyền thống với ethanol - một loại cồn sinh học được sản xuất từ các nguyên liệu có nguồn gốc thực vật như mía, sắn, ngô và một số nguồn sinh khối khác.

Ethanol được tạo ra thông qua quá trình lên men đường hoặc tinh bột có trong thực vật, sau đó được chưng cất và tinh chế để sử dụng làm nhiên liệu. Khi pha ethanol vào xăng theo tỷ lệ nhất định sẽ tạo thành xăng sinh học.

Theo PGS.TS Phạm Hữu Tuyến, lợi ích rõ rệt của xăng E10 là giảm phát thải. Các chất độc hại trong khí thải như Hydrocarbon (HC), Carbon monoxide (CO) giảm tới 20 - 30% so với xăng thuần khoáng. Cùng với đó, khí thải CO2 cũng giảm đáng kể do cây nguyên liệu để chế biến cồn ethanol sẽ hấp thụ CO2 từ môi trường trong quá trình sinh trưởng. Hiệu quả này góp phần bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.

Xăng E10 đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Theo Thông tư số 19/2026/TT-BKHCN “sửa đổi 01:2026 QCVN 01:2022/BKHCN Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xăng, nhiên liệu diezel và nhiên liệu sinh học”, xăng E10 được định nghĩa là hỗn hợp của xăng không chì và ethanol nhiên liệu, có hàm lượng etanol từ 8% đến 10% theo thể tích, ký hiệu là E10. 

Quỳnh Nga

Có thể bạn quan tâm