Vì sao công nghệ sinh học tốt vẫn khó ra thị trường?

Nhiều kết quả nghiên cứu công nghệ sinh học giàu tiềm năng nhưng khó thương mại hóa do vướng mắc về kết nối thị trường, định giá, nguồn vốn và năng lực triển khai.

Có công nghệ chưa đồng nghĩa có thị trường

Công nghệ sinh học được kỳ vọng trở thành một động lực tăng trưởng mới, nhất là khi Việt Nam có lợi thế về nông nghiệp, nguồn gen, tài nguyên sinh học và đội ngũ nghiên cứu. Tuy nhiên, sở hữu tiềm năng khoa học không đồng nghĩa với khả năng tạo ra sản phẩm thương mại. Khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường vẫn là bài toán cần lời giải đồng bộ.

Nghiên cứu giống cây trồng tại Viện Di truyền Nông nghiệp.

Nghiên cứu giống cây trồng tại Viện Di truyền Nông nghiệp.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương bên lề tọa đàm “Điểm nghẽn và cơ hội thành công trong thương mại hóa công nghệ sinh học – Từ phòng lab đến thị trường”, ông Bùi Duy Nghĩa, Trưởng phòng Thống kê khoa học và công nghệ, Viện Thống kê và Đánh giá khoa học, cho rằng việc xác định vị thế của Việt Nam trong lĩnh vực công nghệ sinh học không đơn giản, bởi ngay cả khái niệm công nghệ sinh học và kinh tế sinh học cũng đang tiếp tục được hoàn thiện ở phạm vi quốc tế.

Theo ông Nghĩa, Việt Nam có những lợi thế đáng kể về nguồn tài nguyên di truyền, giống cây trồng và nguồn nhân lực nghiên cứu. Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng thể hiện định hướng phát triển công nghệ sinh học thành một lĩnh vực kinh tế quan trọng. Tuy nhiên, lợi thế và định hướng chính sách mới là điều kiện ban đầu; khả năng chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm, doanh thu và giá trị gia tăng mới là thước đo quan trọng của thương mại hóa.

Thực tế, một sáng chế có thể phải mất nhiều năm mới tìm được hướng ứng dụng phù hợp. Ông Nghĩa dẫn ví dụ có những sáng chế chỉ bắt đầu được khai thác thương mại sau thời gian dài nghiên cứu, khi nhu cầu thị trường xuất hiện và doanh nghiệp sẵn sàng tiếp nhận. Điều này cho thấy giữa việc tạo ra công nghệ và tìm được thị trường cho công nghệ tồn tại một khoảng cách đáng kể.

Ở góc độ doanh nghiệp, TS. Nguyễn Lê Thu Hà, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Khoa học và Công nghệ quốc tế Innogenex, cho biết doanh nghiệp từng nhận được nhiều liên hệ và đơn hàng quốc tế đối với công nghệ xét nghiệm trong giai đoạn dịch Covid-19. Tuy nhiên, không phải cơ hội nào cũng có thể chuyển thành hợp đồng thực tế.

Theo bà Hà, doanh nghiệp khi đó chưa đủ năng lực đáp ứng toàn bộ yêu cầu về vận chuyển xuyên biên giới, hướng dẫn sử dụng, bảo đảm chất lượng sản phẩm trong quá trình giao nhận và xử lý các rủi ro phát sinh. Nếu nhận đơn hàng vượt quá khả năng triển khai, doanh nghiệp có thể phải đối mặt với những hệ quả lớn hơn lợi ích trước mắt. “Không thể chỉ nhìn nhận đây là cơ hội bị bỏ lỡ. Khi chưa đủ năng lực mà vẫn nhận đơn hàng, rủi ro có thể còn lớn hơn”, bà Hà chia sẻ.

Gỡ nút thắt kết nối, định giá và nguồn lực

Một trong những điểm nghẽn được các doanh nghiệp nhắc đến là sự khác biệt giữa nhà khoa học và doanh nghiệp. Hai bên có thể cùng mong muốn đưa sản phẩm ra thị trường, nhưng cách tiếp cận, ngôn ngữ chuyên môn và tiêu chí đánh giá hiệu quả không giống nhau. ThS. Lê Thị Khánh Vân, Phó Chủ tịch Hội Thông tin khoa học và công nghệ Việt Nam, cho rằng nhà khoa học và doanh nghiệp đều có nhu cầu hợp tác, song chưa dễ tìm được tiếng nói chung. Nhà khoa học quan tâm đến chất lượng, tính mới và giá trị khoa học của công nghệ; doanh nghiệp phải cân nhắc nhu cầu khách hàng, chi phí, rủi ro và khả năng thu hồi vốn.

Theo bà Vân, những người làm công tác kết nối, tư vấn và hỗ trợ chuyển giao công nghệ có vai trò quan trọng trong việc giúp hai bên hiểu rõ nhu cầu của nhau, tìm được điểm giao thoa để hình thành phương án hợp tác. Tuy nhiên, hoạt động kết nối cũng cần nguồn lực và cơ chế vận hành phù hợp. Từ thực tế hỗ trợ kết nối nhà khoa học với doanh nghiệp, bà Vân cho biết quá trình này đòi hỏi nhiều thời gian, công sức trao đổi và hoàn thiện phương án hợp tác, trong khi kinh phí dành cho hoạt động trung gian còn hạn chế. Nếu thiếu cơ chế hỗ trợ, việc kết nối dễ phụ thuộc vào nỗ lực cá nhân, khó trở thành hoạt động chuyên nghiệp và có khả năng nhân rộng.

Ở phía doanh nghiệp khởi nghiệp, TS. Nguyễn Lê Thu Hà cho biết việc lựa chọn nhà đầu tư cũng là quyết định quan trọng, nhất là với doanh nghiệp hình thành từ phòng thí nghiệm đại học và sở hữu công nghệ lõi. Nhà sáng lập không chỉ cần vốn mà còn phải cân nhắc nguy cơ mất quyền kiểm soát công nghệ, khả năng phát sinh xung đột lợi ích và mức độ tôn trọng giữa các bên. 

PGS.TS. Phí Quyết Tiến, Viện trưởng Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, cho rằng cần xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, trong đó nhà khoa học tập trung phát triển công nghệ, còn doanh nghiệp phát huy thế mạnh về sản xuất và thị trường. Hai bên có thể lựa chọn phương án chuyển giao toàn bộ công nghệ hoặc góp vốn bằng tài sản trí tuệ để cùng phát triển sản phẩm, tùy theo điều kiện và mục tiêu hợp tác.

Theo ông Tiến, môi trường chính sách đang có những chuyển biến tích cực, tạo thêm cơ hội để kết nối nghiên cứu với doanh nghiệp. Tuy nhiên, quá trình thương mại hóa cần thời gian, sự kiên trì và cơ chế phối hợp giữa các bên. Nguồn lực cho nghiên cứu cũng không nên chỉ dựa vào ngân sách nhà nước; doanh nghiệp có thể tham gia thông qua đặt hàng nghiên cứu, cùng phát triển công nghệ theo nhu cầu thực tế.

Một vấn đề khác là định giá công nghệ và tài sản trí tuệ. PGS.TS. Nguyễn Minh Tân, Trưởng nhóm chuyên môn Kỹ thuật quá trình, Trường Hóa và Khoa học sự sống, Đại học Bách khoa Hà Nội, cho rằng cần có hướng dẫn cụ thể và các chương trình thí điểm để tạo căn cứ thực tiễn cho hoạt động định giá, chuyển giao. "Không thể mặc nhiên lấy kinh phí thực hiện đề tài làm căn cứ xác định giá trị thương mại của kết quả nghiên cứu. Một đề tài được đầu tư 5 tỷ đồng không có nghĩa sản phẩm tạo ra đương nhiên có giá trị tương ứng. Giá trị giao dịch phụ thuộc vào nhu cầu, khả năng ứng dụng và mức giá mà các bên có thể thống nhất trên thị trường", ông Tân chia sẻ và cho rằng đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với lĩnh vực công nghệ sinh học, lĩnh vực thường đòi hỏi thời gian nghiên cứu dài, chi phí thử nghiệm lớn và quá trình hoàn thiện sản phẩm phức tạp. Nếu thiếu phương pháp định giá phù hợp, nhà khoa học có thể khó xác định giá trị tài sản trí tuệ, trong khi doanh nghiệp và nhà đầu tư cũng thiếu cơ sở để đánh giá hiệu quả và rủi ro. 

Từ góc độ quản lý, ông Bùi Duy Nghĩa dẫn câu chuyện phát triển công nghệ mRNA để nhấn mạnh ý nghĩa của đầu tư dài hạn cho khoa học. Những nghiên cứu nền tảng có thể mất nhiều năm trước khi được ứng dụng rộng rãi, nhưng khi nhu cầu xuất hiện, giá trị của chúng có thể vượt xa dự đoán ban đầu. Vì vậy, chính sách cần vừa tạo điều kiện cho nghiên cứu dài hạn, vừa bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ và lợi ích hợp lý của nhà khoa học, tổ chức nghiên cứu và các bên đầu tư.

Theo các chuyên gia, Việt Nam có lợi thế về nguồn nguyên liệu công nghệ sinh học, năng lực nghiên cứu và nhu cầu ứng dụng trong nông nghiệp, y tế, chế biến và nhiều lĩnh vực khác. Nhưng để lợi thế ấy chuyển thành giá trị kinh tế, kết quả nghiên cứu phải vượt qua được ranh giới phòng thí nghiệm, tìm được doanh nghiệp đủ năng lực tiếp nhận và đáp ứng nhu cầu thực tế của thị trường. Thước đo cuối cùng của thương mại hóa không chỉ là số lượng công trình hay sáng chế được tạo ra, mà còn là khả năng ứng dụng, doanh thu, giá trị gia tăng và lợi ích mà công nghệ mang lại cho xã hội.

Theo các chuyên gia, để kết quả nghiên cứu tạo ra giá trị kinh tế, không thể chỉ trông chờ vào chất lượng công nghệ. Sản phẩm còn phải đáp ứng nhu cầu thị trường, có phương án đầu tư phù hợp và được hỗ trợ bởi cơ chế chuyển giao hiệu quả.

Nguyễn Hạnh