Từ lợi thế EVFTA đến ‘bài toán’ đáp ứng EUDR

Hiệp định EVFTA mở rộng dư địa xuất khẩu vào EU, nhưng EUDR đang nâng chuẩn cuộc chơi, buộc doanh nghiệp Việt chuyển từ lợi thế thuế quan sang minh bạch và truy xuất chuỗi cung ứng.

Hiệp định EVFTA tạo cơ hội cho hàng Việt tại EU

Sau 6 năm thực thi, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) đã và đang mang lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp. Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) dẫn số liệu chính thức từ Cục Hải quan và Cục Thống kê - Bộ Tài chính cho thấy rõ hiệu quả mà EVFTA mang lại cho thương mại song phương: tổng kim ngạch thương mại song phương giữa Việt Nam và EU đã vượt 900 tỷ USD trong giai đoạn từ tháng 1 năm 1995 đến tháng 6 năm 2026. Đáng chú ý, có tới 383,8 tỷ USD, tương đương 42,6% tổng kim ngạch của suốt ba thập kỷ, được tạo ra chỉ trong sáu năm sau khi EVFTA chính thức đi vào thực tiễn từ tháng 8 năm 2020.

Tuy nhiên, EVFTA chỉ có thể được tận dụng hiệu quả nếu doanh nghiệp đáp ứng tốt các yêu cầu của thị trường, đặc biệt là những quy định liên quan đến kỹ thuật. Đơn cử, mới đây nhất, ngày 13/7/2026, Ủy ban châu Âu công bố phiên bản mới của Tài liệu hướng dẫn thực hiện Quy định (EU) 2023/1115 về các sản phẩm không gây mất rừng và suy thoái rừng (EUDR). Tài liệu nhằm làm rõ cách hiểu và áp dụng thống nhất một số nội dung quan trọng của EUDR, bao gồm phạm vi sản phẩm, trách nhiệm của các chủ thể trong chuỗi cung ứng, yêu cầu thẩm định, đánh giá rủi ro, tính hợp pháp của hoạt động sản xuất, truy xuất nguồn gốc và sử dụng đất nông nghiệp.

EUDR áp dụng đối với 7 nhóm hàng hóa chính, trong đó có cà phê

EUDR áp dụng đối với 7 nhóm hàng hóa chính, trong đó có cà phê

EUDR áp dụng đối với 7 nhóm hàng hóa chính gồm gia súc, ca cao, cà phê, dầu cọ, cao su, đậu tương và gỗ, cùng các sản phẩm có liên quan được liệt kê theo mã hàng tại Phụ lục I của Quy định. Đối với Việt Nam, các ngành hàng có khả năng chịu tác động trực tiếp và đáng kể gồm cà phê, cao su, gỗ và sản phẩm gỗ, cùng một số sản phẩm chế biến có sử dụng nguyên liệu thuộc phạm vi điều chỉnh.

Thông tin đến phóng viên Báo Công Thương, bà Nguyễn Thị Hoàng Thuý, Vụ trưởng, Trưởng Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại EU nêu rõ những điểm doanh nghiệp cần lưu ý. Theo đó, tài liệu hướng dẫn phân biệt rõ ba hoạt động: đưa sản phẩm ra thị trường EU lần đầu; tiếp tục cung ứng sản phẩm trên thị trường EU và xuất khẩu sản phẩm ra khỏi EU. Trên cơ sở đó, trách nhiệm được xác định cho từng chủ thể, gồm chủ thể kinh doanh đưa hàng hóa ra thị trường lần đầu, chủ thể kinh doanh ở các công đoạn tiếp theo trong chuỗi cung ứng và thương nhân.

Đối với sản phẩm được sản xuất ngoài EU, người nhập khẩu đứng tên trong tờ khai hải quan thường là chủ thể chịu trách nhiệm chính theo EUDR. Tuy nhiên, việc tuân thủ của nhà nhập khẩu phụ thuộc rất lớn vào thông tin, dữ liệu và hồ sơ do nhà sản xuất, nhà cung cấp và doanh nghiệp xuất khẩu tại nước sản xuất cung cấp. Do đó, dù doanh nghiệp Việt Nam có thể không phải là chủ thể trực tiếp nộp tuyên bố thẩm định trên Hệ thống thông tin của EU, doanh nghiệp vẫn phải chuẩn bị đầy đủ dữ liệu để đối tác nhập khẩu thực hiện nghĩa vụ theo Quy định.

“Theo EUDR, sản phẩm liên quan chỉ được đưa ra hoặc cung ứng trên thị trường EU, hoặc xuất khẩu từ EU, khi đồng thời đáp ứng ba điều kiện: Không gây mất rừng hoặc suy thoái rừng; Được sản xuất phù hợp với pháp luật có liên quan của nước sản xuất; Được bao quát bởi tuyên bố thẩm định hoặc tờ khai đơn giản hóa theo quy định”, bà Thuý lưu ý.

Một trong những yêu cầu quan trọng nhất của EUDR là khả năng truy xuất hàng hóa đến khu vực sản xuất. Doanh nghiệp cần chuẩn bị và quản lý có hệ thống các thông tin như: Vị trí địa lý của thửa đất hoặc khu vực sản xuất; Loại hàng hóa, số lượng, thời gian sản xuất hoặc thu hoạch; Thông tin về nhà sản xuất, nhà cung cấp và các chủ thể tham gia chuỗi cung ứng; Hồ sơ chứng minh quyền sử dụng đất và tính hợp pháp của hoạt động sản xuất; Bằng chứng cho thấy khu vực sản xuất không liên quan đến mất rừng sau ngày 31/12/2020; Tài liệu phục vụ việc kiểm tra tính nhất quán giữa nguồn nguyên liệu, khối lượng sản xuất, chế biến và xuất khẩu.

Tài liệu hướng dẫn lưu ý rằng chuỗi cung ứng càng có nhiều khâu trung gian, nhiều vùng nguyên liệu, nhiều quốc gia sản xuất hoặc có sự pha trộn nguyên liệu từ nhiều nguồn thì mức độ phức tạp và nguy cơ không tuân thủ càng cao. Khi không thể xác định đầy đủ các công đoạn hoặc không truy xuất được nguyên liệu đến khu vực sản xuất, sản phẩm có thể bị đánh giá là có rủi ro vượt quá mức không đáng kể.

Doanh nghiệp Việt Nam cần làm gì?

Với những quy định nêu trên, bà Thuý lưu ý, trước khi EUDR được áp dụng đầy đủ, doanh nghiệp nên khẩn trương: Rà soát mã HS và xác định sản phẩm có thuộc phạm vi EUDR hay không; Lập bản đồ toàn bộ chuỗi cung ứng và các vùng nguyên liệu; Chuẩn hóa dữ liệu vị trí địa lý và hồ sơ pháp lý của khu vực sản xuất; Xây dựng cơ chế tách biệt, nhận diện và kiểm soát nguyên liệu từ các nguồn khác nhau; Kiểm tra tính nhất quán giữa dữ liệu vùng nguyên liệu, sản lượng, thu mua, chế biến và xuất khẩu; Thống nhất với khách hàng EU về định dạng, phương thức và thời điểm cung cấp dữ liệu; Thiết lập quy trình lưu trữ hồ sơ và xử lý khi phát hiện thông tin có dấu hiệu không tuân thủ.

Việc chuẩn bị sớm không chỉ giúp doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu của EUDR mà còn nâng cao tính minh bạch, khả năng truy xuất nguồn gốc và năng lực tham gia các chuỗi cung ứng bền vững tại thị trường EU.

Dưới góc độ doanh nghiệp, chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, ông Ngô Sỹ Hoài, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho biết, Việt Nam là quốc gia thứ hai ở châu Á, sau Indonesia, ký kết Hiệp định Đối tác tự nguyện (VPA) với EU. Đây được xem là bước chuẩn bị sớm giúp ngành gỗ tạo nền tảng để đáp ứng các tiêu chuẩn mới của thị trường này.

Theo ông Hoài, thời gian qua Việt Nam đã tập trung hoàn thiện khung khổ chính sách, tăng cường kiểm tra, quản lý theo hướng tiệm cận với các yêu cầu của EU. “Chúng ta đã có sự chuẩn bị khá bài bản. Việc cấp giấy phép FLEGT (Tăng cường Thực thi Luật Lâm nghiệp, Quản trị Rừng và Thương mại Lâm sản) cho từng lô hàng xuất khẩu vẫn đang được bàn thảo về cơ chế áp dụng sao cho đồng bộ với EUDR”, ông Hoài nói.

Đối với tỉnh Sơn La - một trong những địa phương có diện tích cà phê lớn củ cả nước, tại cuộc họp mới đây với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La Nguyễn Thành Công cho biết, tổng diện tích cà phê toàn tỉnh hiện ước đạt 33.628 ha, tăng 44,25% so với 2024. Nguyên nhân diện tích cà phê tăng mạnh do những năm gần đây giá cà phê liên tục tăng cao, thị trường tiêu thụ thuận lợi, công tác quảng bá, xúc tiến tiêu thụ cà phê được đẩy mạnh, nhiều doanh nghiệp, cơ sở cá thể đã đầu tư thu mua và chế biến các sản phẩm từ cà phê, nên người dân một số địa phương mở rộng diện tích trồng mới.

Trong thời gian qua, tỉnh Sơn La đã tích cực tuyên truyền đến các tổ chức, cá nhân các nội dung về quy định xuất khẩu các hàng hóa và sản phẩm có liên quan đến EUDR. Đồng thời tiến hành tổ chức triển khai rà soát các diện tích cây nông nghiệp trồng trên đất lâm nghiệp, xây dựng kế hoạch chuyển đổi sản xuất không gây phá rừng, suy thoái rừng; sản xuất bền vững kết hợp với các mục tiêu bảo tồn tài nguyên và đảm bảo an sinh xã hội tại địa phương theo quy hoạch sử dụng đất.

Để đáp ứng yêu cầu của EUDR, tỉnh Sơn La cũng đề nghị doanh nghiệp, hợp tác xã cần kiểm soát chặt chẽ vùng nguyên liệu, xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc, không thu mua cà phê từ các diện tích có nguy cơ vi phạm EUDR, qua đó đảm bảo uy tín và khả năng tiếp cận thị trường xuất khẩu.

Phần lớn các nghĩa vụ của EUDR được áp dụng từ ngày 30/12/2026. Đối với các chủ thể được thành lập dưới hình thức doanh nghiệp siêu nhỏ hoặc nhỏ trước ngày 31/12/2024, thời điểm áp dụng được lùi đến ngày 30/6/2027, ngoại trừ một số trường hợp liên quan đến gỗ và sản phẩm gỗ thuộc cơ chế chuyển tiếp riêng.

Bảo Ngọc

Có thể bạn quan tâm