TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Gỡ 'nút thắt' để doanh nghiệp Việt làm chủ công nghệ lõi

Theo TS. Nguyễn Sĩ Dũng, Việt Nam cần gỡ các "nút thắt" thể chế ngay trong năm 2026, tạo cơ chế đột phá để doanh nghiệp Việt làm chủ công nghệ lõi.

Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước Cộng hòa Ấn Độ và nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Dân chủ Sri Lanka (từ ngày 5-8/5) Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực trung tâm để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực tự chủ chiến lược.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Quốc gia nào cải cách thể chế nhanh hơn, quốc gia đó sẽ thu hút được dòng vốn, công nghệ và nhân tài tốt hơn. Ảnh: Nguyên Khánh

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Quốc gia nào cải cách thể chế nhanh hơn, quốc gia đó sẽ thu hút được dòng vốn, công nghệ và nhân tài tốt hơn. Ảnh: Nguyên Khánh

Xoay quanh chủ đề trên, trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, TS. Nguyễn Sĩ Dũng - nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, nguyên Ủy viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ cho rằng, thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong các chuyến thăm cấp Nhà nước nói trên có ý nghĩa rất lớn; trong đó, cải cách thể chế trở thành điều kiện hội nhập vào các chuỗi giá trị và chuẩn mực phát triển toàn cầu.

3 "nút thắt" cần xử lý

- Là chuyên gia gắn bó nhiều năm với cải cách thể chế, theo ông, “nút thắt thể chế” cần tháo gỡ dứt điểm ngay trong năm 2026 là gì?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Theo tôi, “nút thắt thể chế” lớn nhất chính là khoảng cách giữa tinh thần cải cách và năng lực thực thi cải cách.

Các chủ trương, định hướng về kinh tế tư nhân, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, cải cách hành chính, Nhà nước kiến tạo… đều đã rất rõ trong nghị quyết của Đảng và Chính phủ.

Vấn đề là nhiều thể chế vẫn vận hành theo tư duy quản lý cũ, quy trình cũ và cơ chế “xin - cho” cũ. Đây là nút thắt làm tăng chi phí giao dịch, kéo dài thời gian thực hiện dự án, đánh mất cơ hội đầu tư và làm suy giảm năng lực cạnh tranh quốc gia. 

Hiện nay, có 3 nút thắt cần xử lý. 

Thứ nhất, chuyển mạnh từ tư duy “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”. Một nền kinh tế muốn đổi mới sáng tạo cần thay thế tư duy “không quản được thì cấm” sang mô hình quản trị dựa trên “tiêu chuẩn, dữ liệu và giám sát rủi ro”.

Thứ hai, tháo gỡ tình trạng chồng chéo pháp luật và phân tán trách nhiệm. Nhiều dự án bị ách tắc chỉ vì cùng lúc vướng Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu… quyền quyết định không đi liền trách nhiệm cuối cùng nên cán bộ dễ chọn giải pháp an toàn là không quyết. Không xử lý được các "nút thắt" này, rất khó đạt mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới.

Thứ ba, xây dựng nền hành chính thực sự phục vụ phát triển. Doanh nghiệp cần nhất là minh bạch, ổn định và khả năng dự đoán của chính sách, một thể chế hiện đại phải giúp doanh nghiệp nhìn thấy được tương lai, thay vì dò dẫm trong "mê cung" thủ tục.

Khi chuỗi cung ứng toàn cầu dịch chuyển, cạnh tranh chiến lược gia tăng…, hội nhập phải được nâng lên thành năng lực kiến tạo vị thế quốc gia. Ảnh minh họa: Nam Nguyễn

Khi chuỗi cung ứng toàn cầu dịch chuyển, cạnh tranh chiến lược gia tăng…, hội nhập phải được nâng lên thành năng lực kiến tạo vị thế quốc gia. Ảnh minh họa: Nam Nguyễn

- Chuyến thăm đặt Việt Nam vào vị thế trục kết nối ASEAN - Nam Á với gần 2,5 tỷ dân. Vậy, “bản lĩnh hội nhập” cần được định hình ra sao, thưa ông?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: “Bản lĩnh hội nhập” trong giai đoạn mới của Việt Nam là “biết lựa chọn, biết kết nối và biết giữ quyền chủ động” trong một thế giới đang tái cấu trúc rất nhanh.

Trước đây, hội nhập chủ yếu nhìn từ việc: mở rộng thị trường, thu hút đầu tư, thúc đẩy xuất khẩu. Nhưng khi chuỗi cung ứng toàn cầu dịch chuyển, cạnh tranh chiến lược gia tăng, thương mại gắn ngày càng chặt với công nghệ, dữ liệu, tiêu chuẩn xanh và an ninh kinh tế, thì hội nhập phải được nâng lên thành năng lực kiến tạo vị thế quốc gia.

Chuyến thăm Ấn Độ và Sri Lanka có ý nghĩa ở chỗ, mở rộng không gian chiến lược của Việt Nam về phía Nam Á và Ấn Độ Dương với thị trường gần 2,5 tỷ dân; rộng hơn là không gian của công nghệ, dược phẩm, năng lượng, logistics, dịch vụ số, giáo dục - đào tạo và đổi mới sáng tạo.

Nếu kết nối tốt, Việt Nam có thể trở thành điểm giao thoa giữa ASEAN, Nam Á và các mạng lưới kinh tế mới nổi.

Quang cảnh Nhà máy ô tô VinFast. Ảnh: Nam Nguyễn

Quang cảnh Nhà máy ô tô VinFast. Ảnh: Nam Nguyễn

Định vị vị thế Việt Nam

Theo tôi, bản lĩnh hội nhập của Việt Nam cần được định hình trên ba phương diện:

Một là, đa dạng hóa nhưng không dàn trải. Cần thêm thị trường, thêm đối tác, thêm chuỗi cung ứng, nhưng phải lựa chọn lĩnh vực có giá trị chiến lược: công nghệ số, bán dẫn, dược phẩm, năng lượng sạch, hạ tầng logistics, nông sản chế biến sâu, thương mại điện tử và dịch vụ tri thức. Hội nhập góp phần nâng cấp vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị.

Hai là, hợp tác sâu nhưng không phụ thuộc. Tự chủ chiến lược là cơ hội mở ra với nhiều lựa chọn. Một quốc gia càng có nhiều đối tác tin cậy, nhiều năng lực nội sinh thì càng ít bị lệ thuộc. Hội nhập phải đi cùng với nâng cao năng lực trong nước: thể chế minh bạch, doanh nghiệp mạnh, công nghệ lõi, nhân lực chất lượng cao và hạ tầng kết nối hiện đại.

Ba là, giữ cân bằng chiến lược bằng lợi ích quốc gia. Việt Nam cần tiếp tục kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; lựa chọn hoà bình, phát triển, luật pháp quốc tế và lợi ích chính đáng của quốc gia - dân tộc - đó chính là bản lĩnh.

Tôi cho rằng, thông điệp lớn từ chuyến thăm lần này của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước là Việt Nam hội nhập để thích ứng, hội nhập để định vị mình. Nếu có thể xây dựng vững chắc vị trí địa chính trị thành lợi thế kinh tế, quan hệ đối tác thành năng lực phát triển, mở cửa thành sức mạnh tự chủ, Việt Nam sẽ có thêm không gian để hiện thực hóa khát vọng 2045.

Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia. Ảnh: Nam Nguyễn

Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia. Ảnh: Nam Nguyễn

Kiến tạo năng lực công nghệ quốc gia

- Tuyên bố chung Việt Nam - Ấn Độ ưu tiên hợp tác trong các lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, đất hiếm, dược phẩm, năng lượng sạch… Nhà nước cần cơ chế đột phá nào để các nội dung hợp tác trở thành dự án trong thời gian tới, thưa ông?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Điểm then chốt là phải chuyển các cam kết hợp tác từ “tuyên bố chính trị” thành danh mục dự án chiến lược có chủ thể chịu trách nhiệm, có nguồn lực, có thời hạn và có chỉ số đo lường.

Bán dẫn, AI, đất hiếm, dược phẩm hay năng lượng sạch đều là ngành công nghệ cao, vốn lớn, rủi ro cao, đòi hỏi hệ sinh thái hoàn chỉnh, nếu không có cơ chế thực thi đủ mạnh, rất dễ dừng ở khẩu hiệu.

Theo tôi, cần 5 cơ chế đột phá:

Một là, cơ chế “dự án quốc gia có người chịu trách nhiệm đến cùng”. Mỗi lĩnh vực ưu tiên cần vài dự án đầu tàu. Mỗi dự án phải có cơ quan chủ trì, doanh nghiệp dẫn dắt, đối tác Ấn Độ, mốc tiến độ và KPI rõ ràng, không thể giao chung chung rồi cuối nhiệm kỳ không biết ai chịu trách nhiệm.

Hai là, cơ chế sandbox cho công nghệ mới. Với AI, bán dẫn, năng lượng mới, dược phẩm sinh học, chờ đủ luật, đủ quy trình mới làm thì sẽ lỡ nhịp. Nhà nước cần cho phép thử nghiệm có kiểm soát, khoanh vùng rủi ro, bảo vệ người dám làm đúng. Công nghệ thế kỷ 21 không thể quản lý bằng tư duy thủ tục thế kỷ 20.

Ba là, cơ chế đồng đầu tư công - tư cho công nghệ lõi. Doanh nghiệp khó tự gánh chi phí R&D rất lớn. Nhà nước cần đặt hàng, đồng tài trợ, bảo lãnh rủi ro một phần và ưu tiên mua sắm công với sản phẩm công nghệ trong nước đạt chuẩn. Muốn có công nghệ lõi thì phải có thị trường đầu tiên, phòng thí nghiệm đầu tiên và đơn hàng đầu tiên.

Bốn là, cơ chế liên kết viện - trường - doanh nghiệp - đối tác quốc tế. Ấn Độ mạnh về công nghệ số, dược phẩm, nhân lực kỹ thuật và đổi mới sáng tạo. Nếu chỉ ký kết giữa cơ quan nhà nước thì chưa đủ, cần đưa các đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ và quỹ đầu tư vào cùng một chuỗi: đào tạo - nghiên cứu - thử nghiệm - thương mại hóa.

Năm là, cơ chế đo lường kết quả theo nhiệm kỳ 2026 - 2031. Ngay từ đầu nhiệm kỳ phải xác định: đến năm 2031 Việt Nam có bao nhiêu kỹ sư bán dẫn được đào tạo; bao nhiêu doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng chip; bao nhiêu mô hình AI ứng dụng trong sản xuất và quản trị công; bao nhiêu sản phẩm dược phẩm chiến lược sản xuất trong nước; tỷ lệ chế biến sâu đất hiếm; bao nhiêu dự án năng lượng sạch vận hành. Không đo được thì không quản trị được, không quản trị được, rất khó tạo đột phá.

Muốn doanh nghiệp Việt thoát khỏi vai trò gia công - lắp ráp, Nhà nước phải chuyển từ “quản lý doanh nghiệp” sang “kiến tạo năng lực công nghệ quốc gia”. Nhà nước không làm thay doanh nghiệp, nhưng phải thiết kế luật chơi, chia sẻ rủi ro ban đầu, mở thị trường, kết nối đối tác và buộc hệ thống thực thi chạy theo kết quả. 

Xin cảm ơn ông! 

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia nêu rõ: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”.

Nghị quyết số 57-NQ/TW đề ra mục tiêu đến năm 2045, Việt Nam có quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 50% GDP; là một trong các trung tâm công nghiệp công nghệ số của khu vực và thế giới; thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Tỉ lệ doanh nghiệp công nghệ số tương đương các nước phát triển; tối thiểu có 10 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến. Thu hút thêm ít nhất 5 tổ chức, doanh nghiệp công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở, đầu tư nghiên cứu, sản xuất tại Việt Nam…

Nguyên Khánh

Có thể bạn quan tâm