Trường Sơn - một biểu tượng văn hóa!

Trong nhiều trang thơ kháng chiến chống Mỹ, từ điểm tựa nghệ thuật dải Trường Sơn đã tuôn chảy ra bao dòng suối ý nghĩa mang tính thời đại.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ vĩ đại của dân tộc ta đã kết tinh thành nhiều biểu tượng văn hóa có sức chiếu sáng mạnh mẽ, nói như nhà thơ Chế Lan Viên, “nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường”. Một trong những biểu tượng như vậy là địa danh Trường Sơn

Một điều dễ lý giải, Trường Sơn hùng vĩ gắn liền với cuộc chiến tranh: Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai (Tố Hữu). Có thể viết từ cảm hứng trực tiếp, là những người lính từng sống, chiến đấu ở Trường Sơn. Sau năm 1975, hầu hết những người lính thời chống Mỹ đều có kỷ niệm với Trường Sơn. Cảm hứng về một thời đánh giặc hôm qua, cộng hưởng với không khí đổi mới văn học, những thành tựu kinh tế - xã hội... đã giúp các tác giả có góc nhìn mới, khám phá mới mẻ về hình tượng.

Trong nhiều trang thơ kháng chiến chống Mỹ, từ điểm tựa nghệ thuật dải Trường Sơn đã tuôn chảy ra bao dòng suối ý nghĩa mang tính thời đại. Hẳn nhiên điểm tựa ấy cũng là một hình tượng cơ bản của thơ. Ngoài một Trường Sơn hùng vĩ của không gian vật lý, một Trường Sơn lịch sử của ý thức cộng đồng, còn một Trường Sơn khác trong tâm thức cá nhân. Các nhà thơ thường mượn hình tượng Trường Sơn để neo gửi tình cảm, tâm trạng. Là tình yêu trai gái trong nỗi nhớ: “Anh lên xe trời đổ cơn mưa/ Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ/ Em xuống núi nắng về rực rỡ/ Cái nhành cây gạt mối riêng tư” (Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây - Phạm Tiến Duật). Là khát khao trao gửi: “Trường Sơn Đông/ Trường Sơn Tây/ Bên nắng đốt/ Bên mưa quây/ Em dang tay/Em xoè tay/ Chẳng thể nào/ Xua tan mây/ Chẳng thể nào/ Che anh được...” (Sợi nhớ sợi thương - Thúy Bắc). Là thử thách bản lĩnh: “Trường Sơn đông nắng tây mưa/ Ai chưa đến đó như chưa rõ mình” (Nước non ngàn dặm - Tố Hữu)...

Trường Sơn - một biểu tượng văn hóa! - 1

Không chỉ thơ, còn là nhạc. Như những cánh chim, từ đỉnh Trường Sơn, nhiều nhạc phẩm tung cánh bay cao vào bầu trời tự do, cất tiếng hát về khát vọng. Những ca khúc sống mãi với thời gian ra đời như một tất yếu. Bước chân trên đỉnh Trường Sơn(nhạc Vũ Trọng Hối, thơ Ðăng Thục) mạnh mẽ một niềm tin: Ta vượt trên triền núi cao Trường Sơn/ Ðá mòn mà đôi gót không mòn”. Trên đỉnh Trường Sơn ta hát của Huy Du vút cao nốt nhạc lạc quan vào chiến thắng:“Này Trường Sơn ơi/... Từng ngày từng tháng/ Là từng bài ca/ Tiếng hát cùng ta/ Vượt qua gian khổ”. Bài ca Trường Sơn (nhạc Trần Chung, thơ Gia Dũng) phơi phới niềm vui: “Đêm nay ta đi Trường Sơn lộng gió/ Trời vắng trăng sao nhưng tim ta rực lửa/ Đi ta đi tung cánh đại bàng”... Lấy tấm thân cường tráng, khỏe mạnh đưa hàng vạn, hàng triệu lượt người con ưu tú từ miền Bắc vào Nam chiến đấu giành độc lập, Trường Sơn sản sinh ra một đội ngũ văn nghệ sĩ, với: Phạm Tiến Duật, Lê Lựu, Lê Minh Khuê, Khuất Quang Thụy, Phạm Hoa, Nguyễn Thụy Kha... (văn, thơ); Huy Du, Huy Thục, Vũ Trọng Hối, Trọng Loan, Tân Huyền, Hoàng Hiệp, Trần Chung, Nguyên Nhung... (âm nhạc)... Trường Sơn đã trở thành biểu tượng cho ý chí, nghị lực, tình yêu mà những ai sống, gắn bó với Trường Sơn càng thêm cơ hội có tác phẩm hay.

Cuối năm 1974, nhà thơ Nguyễn Đình Thi đi thực tế chiến trường, gặp những cô gái thanh niên xung phong đang mở đường vẫy chào đoàn quân đi vào tiền tuyến. Xúc động dâng trào, nhà thơ viết một mạch bài thơ Lá đỏ. Tác phẩm được công bố, chỉ sau một thời gian ngắn, nhạc sĩ Hoàng Hiệp phổ thành bài hát, câu chữ thêm bớt không đáng kể. Được nhạc chắp thêm cánh, thi phẩm bay vào tâm hồn người đọc, người nghe, đọng lại trong trái tim một tình yêu thiết tha về đất nước, quê hương, tình đồng đội, đồng chí và niềm tin tất thắng. Nhịp điệu bài thơ là sự mô phỏng nhịp bước hành quân của người lính đi đến ngày thắng lợi. Cả bài 9 câu thơ, có 8 câu ở thể lục ngôn tạo ra nhịp điệu dồn dập, chắc khỏe, âm vang, dư ba. Riêng câu “Em đứng bên đường như quê hương”, như một “điểm nhấn nghệ thuật”, có 7 chữ cấu trúc theo lối so sánh, dồn tụ vào đó linh hồn của bài thơ: “Em” là hiện thân của quê hương cùng ra trận. Chỉ riêng câu thơ này cũng phần nào cho thấy đây là cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, tổng hợp sức mạnh của dân tộc, của lịch sử, của quê hương, đất nước. Đó là cuộc chiến tranh chính nghĩa, tất thắng!

Trường Sơn - một biểu tượng văn hóa! - 2

Thi phẩm là sự kiến tạo theo lối đối lập giữa con người và sự ác liệt để tôn lên hình tượng “em gái tiền phương” như đang vươn lên, vượt lên trên cả không gian chiến tranh (nhòa trời lửa). Không chỉ là niềm lạc quan, còn thể hiện tư thế người Việt Nam thách thức với bom đạn của kẻ thù giàu có, hung ác nhất thế giới lúc bấy giờ. Với hình tượng “Em vẫy cười đôi mắt trong”, nhà thơ đã tạc vào không gian một biểu tượng văn hóa Việt Nam: Niềm tin, đạo lý, lẽ phải Việt Nam! Không chỉ tỏa sáng toàn bài, hình tượng còn tỏa sáng cả thời đại làm rạng ngời lên chân lý: Việt Nam chiến thắng!

Khi đạt đến một trình độ kết tinh cao, tác phẩm văn chương sẽ trở thành tiếng nói của thời đại, lịch sử. Được đọc những bài thơ như vậy, độc giả đã dự cảm được một chiến thắng vĩ đại, đang tới rất gần!

Cảm hứng lịch sử, dân tộc, cộng đồng, cụ thể là cảm hứng về cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại thời chống Pháp và Mỹ, với những chiến thắng oanh liệt, những mất mát tổn thất chi phối toàn bộ âm hưởng thế giới trường ca sử thi sau 1975. Điều dễ nhận thấy, các địa danh lịch sử được nhiều tác giả quan tâm, trong đó địa danh Trường Sơn xuất hiện ở hầu hết các thi phẩm. Có nhiều trường ca chỉ tập trung viết về hình tượng này, như Trường ca Trường Sơn của Nguyễn Anh Nông, Vạn lý Trường Sơn của Nguyễn Hữu Quý, Hành quân Trường Sơn của Nguyễn Minh Khang...

Trường ca viết về Trường Sơn sau 1975, có đặc điểm lấy Trường Sơn của ngày hôm qua, để phân tích, khám phá con người hôm nay. Như trong Metro của Thanh Thảo: “Mẹ ơi con người ta nhỏ bé lắm/ ba tháng trên Trường Sơn mới được húp bát canh rau muống đã đời/ mẹ ơi/ nhu cầu thường đơn giản/ bây giờ thỉnh thoảng/ con nghĩ không biết mình thèm cái gì/ hạnh phúc có khi/ là được thèm nhiều thứ rất vớ vẩn”. Hoặc lấy hình tượng này làm điểm tựa để nói tới một hy sinh vĩ đại - một Trường Sơn khác: “Còn một Trường Sơn khác/ bấy giờ anh chưa biết/ một Trường Sơn khốc liệt/ những đêm khuya vò võ một mình/ một Trường Sơn lặn vào nỗi nhớ mùi mồ hôi đã tắt/ một Trường Sơn u uất/ trắng toát thời con gái” (Metro - Thanh Thảo). Đấy là sự hy sinh vô cùng lớn lao của người phụ nữ, có thể đã gửi cả tuổi trẻ đẹp nhất của mình ở Trường Sơn, để rồi hôm nay tuổi đã ngả về chiều, ngẩn ngơ tiếc nhớ, nhìn về Trường Sơn để dõi tìm một thời quá vãng. Cũng rất có thể, người phụ nữ có người yêu, người chồng ngã xuống trên dải Trường Sơn. Cứ ở vậy, rồi hóa đá thành một nàng “vọng phu”. Nàng vọng phu trong truyền thuyết ngóng chồng, còn có đứa con an ủi. Rất nhiều nàng “vọng phu” ngày nay ngóng chồng trong nỗi lẻ loi đơn chiếc...

Trường Sơn hóa thân vào con người. Lại có cả con người hóa thân vào Trường Sơn. Nguyễn Hữu Quý có những câu thơ cảm động về những cái chết đã hóa thân vào đất nước để làm rạng ngời nước non này: “Mười nghìn bát hương/ Mười nghìn ngôi sao cháy/ Mười nghìn tiếng chuông ngân trong im lặng/ Mười nghìn trái tim neo ở đầu nguồn/ Mười nghìn Trường Sơn trong một Trường Sơn/ Mười nghìn lời ca trong bài ca lớn...” (Những hồi chuông màu đỏ). Có một dải Trường Sơn thật ngoài đời, thì cũng có một dãy Trường Sơn hình tượng trong trường ca.

Đại tá, PGS.TS Nguyễn Thanh Tú

Có thể bạn quan tâm