Không gian mới mở dư địa phát triển logistics
Sau hợp nhất, vị thế logistics của Hưng Yên có thêm những điều kiện mới khi địa bàn tỉnh trải từ khu vực giáp Hà Nội ra Biển Đông với khoảng 54 km bờ biển, nằm giữa các cực tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh - Ninh Bình. Các trục Vành đai 4, Vành đai 5, cao tốc Hà Nội - Hải Phòng cùng hành lang ven biển mở rộng khả năng kết nối giữa các khu vực sản xuất trong tỉnh với thị trường Hà Nội và hệ thống cảng biển phía Bắc.
PGS.TS. Hồ Thị Thu Hòa, cố vấn cấp cao Viện Nghiên cứu và Phát triển Logistics Việt Nam
Nhu cầu logistics cũng gia tăng cùng với quy mô sản xuất và xuất nhập khẩu. Theo số liệu được Viện Nghiên cứu và Phát triển Logistics Việt Nam tổng hợp, GRDP Hưng Yên năm 2025 ước đạt 318.900 tỷ đồng; 6 tháng đầu năm 2026 đạt hơn 142.000 tỷ đồng, tăng 10,72%, xếp thứ 5 cả nước. Đến năm 2030, tỉnh định hướng quy hoạch 55 khu công nghiệp và 114 cụm công nghiệp với khoảng 7.035 ha. Quy mô sản xuất tiếp tục mở rộng sẽ kéo theo lượng nguyên liệu, linh kiện, hàng công nghiệp và hàng xuất nhập khẩu cần lưu chuyển ngày càng lớn.
Sức ép từ dòng hàng gia tăng càng làm rõ những khoảng trống trong năng lực logistics hiện nay. Đường bộ đang đảm nhận trên 94% khối lượng hàng hóa vận chuyển của Hưng Yên, trong khi đường thủy chiếm chưa đến 6%. Dù có 111 bến thủy nội địa, phần lớn vẫn nhỏ lẻ, mức độ cơ giới hóa thấp. Hệ thống dịch vụ hỗ trợ cũng còn mỏng khi kho bãi và dịch vụ hỗ trợ mới chiếm khoảng 3,7-5% GRDP ngành vận tải, kho bãi; trên địa bàn chưa có kho ngoại quan, hoạt động logistics chủ yếu vẫn tập trung ở những dịch vụ cơ bản như vận tải, kho bãi.
Khả năng kết nối giữa các đầu mối cũng chưa theo kịp yêu cầu lưu chuyển hàng hóa. Hưng Yên hiện mới có một nút giao với cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, còn thiếu cầu vượt sông Hồng, trục kết nối trực tiếp sang Bắc Ninh và các tuyến Đông - Tây. Ở phía biển, luồng Diêm Điền với độ sâu khoảng -1,5 m mới tiếp nhận tàu khoảng 2.000-3.000 tấn; kết nối đường sắt với ICD, cảng và bến thủy còn yếu. Vì vậy, dù có điều kiện kết nối bằng nhiều phương thức và không gian hướng biển, việc khai thác lợi thế này cho vận chuyển hàng hóa vẫn còn những mắt xích cần hoàn thiện.
Yêu cầu đặt ra càng lớn khi logistics của Hưng Yên không chỉ phải đáp ứng lượng hàng tăng lên mà còn phục vụ những dòng hàng có đặc tính khác nhau. Khu vực phía Bắc gắn với công nghiệp, công nghệ cao và thị trường Hà Nội cần dịch vụ phân phối, cung ứng linh kiện, hoàn tất đơn hàng và vận tải chặng cuối. Khu vực trung tâm và phía Nam phát sinh nhu cầu kho lạnh, sơ chế, bảo quản, đóng gói cho nông nghiệp và công nghiệp chế biến; trong khi vùng ven biển mở thêm nhu cầu logistics phục vụ công nghiệp, kinh tế biển và xuất nhập khẩu.
Phát biểu trong tham luận về vị trí, vai trò và giải pháp nâng cao năng lực kết nối logistics của Hưng Yên trong vùng Đồng bằng sông Hồng tại Tọa đàm “Xây dựng và phát triển dịch vụ logistics tại Hưng Yên trong kỷ nguyên số và hội nhập quốc tế” diễn ra vào chiều 24/8, PGS.TS. Hồ Thị Thu Hòa, Cố vấn cấp cao Viện Nghiên cứu và Phát triển Logistics Việt Nam, đặc biệt lưu ý tác động của việc mở rộng không gian công nghiệp đối với nhu cầu logistics của tỉnh. Theo bà, sự phát triển này sẽ kéo theo luồng nguyên vật liệu, hàng công nghiệp và hàng xuất nhập khẩu gia tăng mạnh, đồng thời hình thành nhu cầu kết nối logistics theo trục Bắc Hưng Yên - trung tâm tỉnh - ven biển, cảng biển.
PGS.TS. Hồ Thị Thu Hòa đặt ra yêu cầu: “Đòi hỏi phát triển đồng bộ trung tâm logistics, kho bãi, vận tải đa phương thức và kết nối chặng cuối với các khu, cụm công nghiệp; tạo điều kiện để Hưng Yên chuyển từ địa bàn sản xuất thành nút tổ chức và trung chuyển chuỗi cung ứng của Đồng bằng sông Hồng".
Từ nhận định này, vấn đề đặt ra không chỉ là đáp ứng lượng hàng hóa ngày càng lớn, mà còn là khả năng kết nối các khu vực sản xuất với trung tâm logistics, cảng biển và thị trường. Khi đường bộ vẫn đảm nhận phần lớn khối lượng vận chuyển, các phương thức khác chưa phát huy tương xứng, trong khi dịch vụ logistics còn tập trung nhiều ở vận tải và kho bãi cơ bản, việc nâng cấp năng lực kết nối trở thành điều kiện cần thiết để Hưng Yên tiến gần hơn tới vai trò một đầu mối tổ chức và trung chuyển chuỗi cung ứng của vùng.
Cần một hệ sinh thái tích hợp
Cùng với tháo gỡ những điểm nghẽn kết nối, một yêu cầu quan trọng đối với Hưng Yên là xác định rõ tỉnh sẽ đảm nhận vai trò nào trong mạng lưới logistics khu vực phía Bắc. Bởi với vị trí nằm giữa Hà Nội và các cửa ngõ cảng biển, phát triển thêm hạ tầng chưa đồng nghĩa địa phương sẽ giữ lại được nhiều hơn giá trị từ hoạt động logistics.
Ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương)
Phát biểu trong tham luận tại tọa đàm về phát triển logistics tỉnh Hưng Yên, ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho rằng, sau hợp nhất, tỉnh có thể tổ chức một chuỗi không gian liên hoàn từ thị trường và các khu công nghiệp ở phía Tây Bắc, qua vùng sản xuất và đô thị trung tâm đến khu kinh tế và cửa biển ở phía Đông Nam. Đây là điều kiện để Hưng Yên hướng tới vai trò trung chuyển, chế biến và phân phối, thay vì chỉ là nơi hàng hóa đi qua.
Tuy nhiên, lợi thế địa lý không tự động chuyển thành giá trị logistics. Thị trường hiện vẫn phân mảnh, nhiều doanh nghiệp mới cung cấp một số công đoạn như vận tải đường bộ, cho thuê kho hoặc giao nhận, trong khi các dịch vụ tích hợp, quản trị chuỗi lạnh, logistics ngược và giải pháp dữ liệu chưa phát triển tương xứng với quy mô công nghiệp. Đáng chú ý, sự gần gũi với Hà Nội vừa là lợi thế thị trường, vừa khiến nhiều chức năng logistics có giá trị cao được thực hiện ngoài địa bàn. Nếu chất lượng dịch vụ không được nâng lên, Hưng Yên có thể phải chịu áp lực về xe tải, sử dụng đất và môi trường nhưng phần giá trị gia tăng lớn lại thuộc về các trung tâm điều phối ở địa phương khác.
Từ thực tế đó, ông Trần Thanh Hải nhấn mạnh: “Với Hưng Yên sau hợp nhất, vấn đề đặt ra không chỉ là xây thêm kho bãi hay mở thêm tuyến vận tải, mà là thiết kế một hệ sinh thái logistics tích hợp, đủ sức kết nối và làm tăng giá trị cho toàn bộ không gian kinh tế từ cửa ngõ Thủ đô đến Biển Đông".
Theo cách tiếp cận này, hệ thống logistics của Hưng Yên cần được tổ chức theo chức năng của từng khu vực thay vì nơi nào cũng phát triển một mô hình giống nhau. Khu vực Tây Bắc có thể ưu tiên trung tâm phân phối vùng, kho thông minh, dịch vụ hoàn tất đơn hàng thương mại điện tử, logistics linh kiện và cảng cạn phục vụ khu công nghiệp. Khu vực trung tâm tập trung vào thu gom, sơ chế, kiểm nghiệm, đóng gói và kho lạnh dùng chung cho nông sản, thực phẩm; còn vùng ven biển dành không gian cho hậu cần cảng, kho ngoại quan, bãi container, hàng dự án và hậu cần năng lượng. Việc phân vai rõ từng đầu mối cũng nhằm tránh tình trạng nhiều dự án cùng đăng ký chức năng tổng hợp nhưng không xác định được phân khúc thị trường.
Hạ tầng giao thông theo đó cần được đầu tư theo nhu cầu vận hành của dòng hàng. Các tuyến cao tốc, quốc lộ chỉ phát huy hiệu quả logistics khi hàng hóa có thể đi vào và rời mạng lưới thuận lợi. Những hạng mục như đường gom, nút giao, cầu qua sông, tuyến nối khu công nghiệp với trung tâm logistics, bến thủy và cảng biển vì vậy cần được đặt trong cùng một bài toán kết nối, thay vì xem xét riêng từng công trình.
Vận tải thủy cũng là một hướng cần khai thác tốt hơn. Với hệ thống sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý và vùng ven biển, một phần hàng rời, vật liệu, nông sản và container có thể được chuyển khỏi đường bộ nếu hình thành được các bến thủy, điểm gom hàng phù hợp và giải quyết kết nối ở chặng đầu, chặng cuối. Theo ông Trần Thanh Hải, vận tải thủy không thay thế đường bộ nhưng có thể trở thành phương thức nền cho những luồng hàng khối lượng lớn, qua đó góp phần giảm chi phí, ùn tắc và phát thải.
Cùng với kết nối hạ tầng, việc phát triển chuỗi lạnh được đặt ra như một yêu cầu đối với khu vực sản xuất nông nghiệp và chế biến. Khi vùng nguyên liệu được nối với nhà máy chế biến, hệ thống phân phối tại Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh và các cửa ngõ xuất khẩu, các khâu bảo quản, sơ chế, đóng gói và truy xuất có thể được tổ chức ngay trong chuỗi thay vì chỉ tập trung vào vận chuyển.
Cách tổ chức này cũng cho thấy, bài toán logistics Hưng Yên không nên được đo đơn thuần bằng số tuyến đường, số kho hay số trung tâm logistics được xây dựng. Vì vậy, việc đánh giá các dự án cần dựa trên thời gian và chi phí vận chuyển thực tế; đồng thời xây dựng các chỉ tiêu theo dõi thời gian vận chuyển trên những hành lang chính, tỷ lệ giao hàng đúng hạn, xe chạy rỗng, mức sử dụng kho, nhu cầu chuỗi lạnh, tỷ lệ thuê ngoài và mức độ số hóa.
Với không gian phát triển mở rộng và vị trí kết nối giữa thị trường Hà Nội với các cửa ngõ cảng biển phía Bắc, Hưng Yên đang có thêm điều kiện để tổ chức lại mạng lưới logistics theo hướng đồng bộ và hiệu quả hơn. Việc xác định rõ chức năng từng khu vực, kết nối các vùng sản xuất với kho bãi, trung tâm logistics, bến thủy, cảng biển và phát triển dịch vụ phù hợp với từng dòng hàng sẽ giúp khai thác tốt hơn những lợi thế sẵn có. Khi các mắt xích từng bước được kết nối thành một mạng lưới, logistics không chỉ đáp ứng nhu cầu lưu chuyển hàng hóa ngày càng lớn mà còn có thể góp phần nâng cao giá trị của hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu trên địa bàn. Đây cũng là cơ sở để Hưng Yên từng bước khẳng định vai trò trong mạng lưới logistics của Đồng bằng sông Hồng.
Theo Viện Nghiên cứu và Phát triển Logistics Việt Nam, trên 94% khối lượng hàng hóa vận chuyển của Hưng Yên hiện phụ thuộc vào đường bộ, đường thủy chiếm dưới 6%; tỉnh có 111 bến thủy nội địa nhưng phần lớn còn nhỏ lẻ, mức độ cơ giới hóa thấp. Trong khi đó, đến năm 2030, Hưng Yên định hướng quy hoạch 55 khu công nghiệp và 114 cụm công nghiệp với khoảng 7.035 ha, kéo theo nhu cầu ngày càng lớn về vận tải, kho bãi, trung chuyển và các dịch vụ logistics phục vụ sản xuất, xuất nhập khẩu.