Tái cơ cấu cây trồng vùng Tây Bắc: Nên khai thác lợi thế

Cũng như nhiều vùng quê khác trong cả nước, cơ cấu nông nghiệp của vùng trung du miền núi phía Bắc (TDMNPB) cơ bản vẫn tập trung vào những loại cây chủ lực có lợi thế là lúa, ngô, sắn và cây chè.

CôngThương - Các loại cây trồng chủ lực

Lúa gạo

Trong đó sản xuất lúa là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu vì sự an toàn lương thực của toàn vùng. Những năm qua, nhiều loại giống mới phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng đã được áp dụng vào sản xuất, như các giống lúa thuần cực ngắn ngày, nhưng cho năng suất, chất lượng gạo khá ngon, chống chịu sâu bệnh. Ngoài ra, các tỉnh TDMNPB còn phát triển nhanh giống lúa chất lượng như Nếp Tú Lệ, Nàng Hương (Yên Bái), nếp Râu, tẻ Già Dui, Khẩu Mang (Hà Giang); Shén Cù (Lào Cai)... Hay các giống lúa chịu hạn như CH207 và CH208 cho các vùng thiếu nước tưới và một số giống lúa cạn thích hợp cho vùng nước trời như các giống lúa lai 2, 3 cho năng suất cao, chất lượng gạo tốt, có thể gieo trồng cả hai vụ trong năm.

Ngô

Xuất phát từ phong tục tập quán địa phương, tỉnh nào cũng trồng ngô, lương thực chính của một số dân tộc vùng cao như H'mông, Dao, Nùng... Sản xuất ngô ở vùng này có thể chia làm hai vùng chính: Vùng ngô Đông Bắc và vùng ngô Tây Bắc. Đặc biệt, những năm qua sản xuất ngô hàng hóa phát triển mạnh ở Điện Biên, Sơn La và Hòa Bình. Ngô vùng này chủ yếu được trồng trên nhóm: Đất phù sa, đất đen nhiệt đới và đất đỏ vàng. Đối với đất phù sa sông suối rất thích hợp cho sản xuất lúa và ngô… Bà con có thể phát triển diện tích ngô trên đất này bằng cách tăng cường sản xuất vụ ngô với các cơ cấu: Lúa xuân - lúa mùa - ngô đông, ngô xuân - lúa mùa - ngô đông hoặc ngô xuân - ngô hè thu. Bà con cũng có thể chuyển diện tích đất ruộng thiếu nước vụ xuân sang trồng vụ ngô xuân nhưng cần chú trọng bón cân đối các nguyên tố N, P, K. Đối với đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính, lượng nước hút ẩm của đất khá cao, độ ẩm cây héo đối với ngô lớn. Do vậy, bà con cần chống xói mòn; che phủ, giữ ẩm đất vào mùa khô; làm đất tối thiểu để bảo vệ kết cấu đất. Đối với đất đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất, bà con cần chú ý đến bón phân cân đối đặc biệt là lân, nâng cao hàm lượng hữu cơ bằng các biện pháp như: Che tủ gốc bằng tàn dư thực vật, vùi phụ phẩm nông nghiệp (thân lá ngô vụ trước vùi cho vụ sau) và chống xói mòn rửa trôi. Đối với đất mùn vàng đỏ trên núi, bà con nên hạn chế mở rộng diện tích cây ngô. Ở những diện tích đã và trồng ngô cần chú trọng các biện pháp kỹ thuật: Chống xói mòn, bón phân cân đối đặc biệt chú ý đến nguyên tố P, K. Loại đất này thích hợp cho việc sử dụng theo phương thức nông lâm kết hợp, có thể phát triển cây dược liệu và cây ăn quả ôn đới. Hiện nay, phương thức trồng xen cây họ đậu vào ngô khá phổ biến ở trong vùng, vừa thu được sản phẩm vừa có tác dụng che phủ chống xói mòn, cỏ dại, giữ ẩm và tăng cường chất hữu cơ cho tầng canh tác.

Chè

Trong những năm qua, với lợi thế của vùng, cây chè được phát triển mạnh, hiện chiếm hơn 51% tổng diện tích chè cả nước, với 19 giống chè mới có năng suất, chất lượng đã và đang phổ biến trong sản xuất. Nhờ vậy nhiều địa phương đã hình thành những vùng sản xuất chè lớn như: Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Thái Nguyên, Phú Thọ...

Tổ chức lại sản xuất nông nghiệp

Mặc dù sản xuất nông nghiệp từng bước phát triển, nhưng so với mặt bằng chung cả nước, kinh tế toàn vùng TDMNPB vẫn còn nhiều khó khăn. Ngoài chè với diện tích gần 100.000 héc-ta, hằng năm cho sản lượng gần 600.000 tấn (chiếm hơn 51% diện tích và 65% sản lượng chè cả nước), thì các sản phẩm được coi là chủ yếu trong vùng như lúa chỉ chiếm gần 10%, ngô 36%, sắn 15%... Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến tỷ lệ hộ nghèo toàn vùng cao nhất cả nước.

Để bảo đảm an ninh lương thực cho vùng, tạo nguồn thu nhập và lợi ích cho người sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng nông sản, góp phần xóa đói, giảm nghèo, các ngành chức năng cần phối hợp các tỉnh TDMNPB đẩy mạnh phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hóa, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về lượng, chất, mẫu mã sản phẩm của thị trường trong nước và xuất khẩu. Theo đó, phát triển nông nghiệp theo hướng thâm canh tăng năng suất, tăng chất lượng nông sản và bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm. Lựa chọn cây trồng, vật nuôi, dựa trên tiềm năng và lợi thế so sánh của từng tiểu vùng (đồng bằng, trung du, đồi núi), phù hợp với điều kiện của mỗi tiểu vùng phát triển nông sản, đặc sản. Chú trọng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, tăng tỷ trọng của ngành chăn nuôi, các cây trồng, vật nuôi có giá trị, có lợi thế: Lúa đặc sản, rau, hoa, cây công nghiệp ngắn ngày (chè, cà phê, cây ăn quả, mía), chăn nuôi gia súc, gia cầm. Đầu tư xây dựng công nghiệp bảo quản, chế biến nông sản, gắn liền với xây dựng chợ và các trung tâm thương mại, dịch vụ ở nông thôn.

Hương Giang