Tại cuộc họp với Đảng ủy Bộ Y tế về công tác y học cổ truyền Việt Nam vào tháng 5 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho rằng, phải phát triển ngành công nghiệp dược liệu là một ngành kinh tế, đồng bộ theo chuỗi từ giống, vùng trồng tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc, bào chế sản phẩm, thương hiệu và thị trường xuất khẩu; cần quy hoạch đồng bộ các vùng trồng dược liệu trọng điểm theo tiêu chuẩn.
Chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã đặt ra yêu cầu mới trong phát triển dược liệu Việt Nam, không dừng ở khai thác tiềm năng sẵn có mà phải tổ chức thành một ngành kinh tế có quy hoạch, tiêu chuẩn, công nghệ chế biến và thị trường.
Xoay quanh nội dung này, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với chuyên gia nông nghiệp Hoàng Trọng Thủy.
Chuyên gia nông nghiệp Hoàng Trọng Thủy trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Công Thương - Ảnh: Quốc Chuyển
Đánh thức "kho vàng" dược liệu
- Nhiều năm qua, chúng ta thường nói Việt Nam có "kho vàng" dược liệu nhưng thực tế phần lớn giá trị vẫn dừng ở khai thác thô. Theo ông, vì sao một tiềm năng lớn như vậy vẫn chưa hình thành được một ngành công nghiệp dược liệu đúng nghĩa?
Chuyên gia Hoàng Trọng Thủy: Trước hết, sản xuất dược liệu hiện nay vẫn còn manh mún, dù cách đây khoảng 15 năm Việt Nam đã có chiến lược phát triển dược liệu và xác định nhiều vùng có cây dược liệu quý. Thực tế, quy hoạch vùng dược liệu đã được xây dựng, chỉ rõ từng tỉnh, từng khu vực có lợi thế; tuy nhiên, điểm nghẽn lớn là sản xuất vẫn chủ yếu theo hộ gia đình, chưa hình thành được nhiều tổ hợp tác, hợp tác xã đủ mạnh.
Nguyên nhân lớn nhất nằm ở thị trường, đầu ra chưa ổn định, sản xuất tất yếu rơi vào tình trạng nhỏ lẻ, thiếu đơn vị tổ chức, liên kết và dẫn dắt. Yếu tố thứ hai là công nghiệp chế biến dược liệu chưa phát triển. Người dân sản xuất ra khối lượng lớn nhưng chủ yếu trông chờ vào thu mua thô, nhiều sản phẩm phải đẩy qua biên giới. Do thiếu cơ sở chế biến hiện đại, rất khó mở rộng quy mô sản xuất lớn, kể cả theo mô hình hợp tác xã. Yếu tố thứ ba là phần lớn vùng dược liệu nằm ở miền núi, vùng sâu, vùng xa nên chi phí vận chuyển cao, người sản xuất dễ bị thương lái ép giá.
Tuy nhiên, khoảng 2 năm gần đây, đã có chuyển biến rõ rệt. Các tổ hợp tác, hợp tác xã và hộ sản xuất ở vùng có hệ sinh thái phù hợp bắt đầu chuyển sang canh tác dược liệu bài bản hơn. Tôi cho rằng, lực lượng này sẽ tăng tốc trong 3-5 năm tới, bởi giá trị kinh tế của dược liệu ngày càng rõ, chủ trương chính sách đã cụ thể hơn, du lịch nông thôn và sản xuất dược liệu có thể bổ trợ lẫn nhau.
Sau đại dịch Covid-19, nhu cầu chăm sóc sức khỏe bằng sản phẩm dược liệu cũng tăng lên. Điều kiện đã chín muồi, vấn đề là phải tổ chức lại sản xuất và đầu tư mạnh cho công nghiệp chế biến sâu. Khi có sản phẩm đạt chuẩn, chất lượng cao và hàm lượng công nghệ lớn, dược liệu Việt Nam mới có thể trở thành một ngành công nghiệp đúng nghĩa.
- Việc quy hoạch các vùng trồng dược liệu cần được triển khai như thế nào để vừa bảo đảm chất lượng nguyên liệu, vừa tránh tình trạng phong trào, thưa ông?
Chuyên gia Hoàng Trọng Thủy: Chúng ta đã và đang có quy hoạch vùng dược liệu nhưng trong hoạch định vùng nguyên liệu vẫn còn hạn chế. Hiện nay, quy hoạch chủ yếu dựa vào điều kiện sinh thái, tập quán sản xuất, trong khi chưa tính đầy đủ các biến số của quá trình phát triển như biến động thị trường, tình trạng tranh mua tranh bán, năng lực chế biến còn yếu và sự thay đổi của cấu trúc sản xuất.
Chính những yếu tố này khiến nhiều vùng nguyên liệu chưa có mã vùng trồng, mã cơ sở đóng gói và chưa đủ điều kiện xây dựng thương hiệu. Vì vậy, dược liệu của chúng ta gần như vẫn chủ yếu xuất khẩu thô, giá trị thu được thấp.
Với sản phẩm liên quan trực tiếp đến sức khỏe con người, niềm tin thị trường là yếu tố rất quan trọng. Muốn tạo niềm tin, sản phẩm phải có thương hiệu, nhãn mác, tiêu chuẩn và hàm lượng công nghệ. Thiếu những yếu tố đó, người tiêu dùng khó đặt niềm tin vào dược liệu trong nước.
Chẳng hạn, sâm Ngọc Linh nếu được di chuyển từ vùng gốc ra nơi khác trồng có thể gặp điều kiện sinh thái tương đồng nhưng với dược liệu, đất, nước, nhiệt độ và môi trường tự nhiên có vai trò quyết định... khi khác hệ sinh thái, chất lượng dược liệu có thể không còn như vùng gốc.
Do đó, quy hoạch quốc gia mới chỉ nên được xem là nền tảng xác định vùng sinh thái, còn diện tích, sản lượng, tiêu chuẩn cụ thể cần sự vào cuộc mạnh hơn của địa phương, chính quyền và ngành y tế. Các cơ quan này phải làm "bà đỡ", cung cấp thông tin, hướng dẫn tiêu chuẩn, tổ chức lại sản xuất. Khi hướng đi rõ ràng, ngành dược liệu hoàn toàn có thể phát triển nhanh trong 5 năm tới.
Lĩnh vực dược liệu Việt Nam có tiềm năng phát triển trở thành một ngành kinh tế - Ảnh minh họa
Xây dựng thương hiệu quốc gia cho dược liệu Việt
- Ông đánh giá vai trò của doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân trong chuỗi dược liệu ra sao? Cần cơ chế liên kết nào để người trồng dược liệu có thể tham gia sâu hơn vào giá trị gia tăng của ngành?
Chuyên gia Hoàng Trọng Thủy: Nếu nhìn theo chuỗi giá trị, tác nhân đầu tiên là người sản xuất, gồm hộ dân, tổ hợp tác và hợp tác xã. Đây là lực lượng tạo ra nguồn cung ban đầu. Tác nhân thứ hai là doanh nghiệp, giữ vai trò cao hơn trong việc xây dựng quy trình, tiêu chuẩn, hợp đồng và cơ chế giá. Tiếp đó là các cơ sở chế biến, hệ thống thu mua, phân phối và cuối cùng là thương mại hóa sản phẩm.
Hiện chuỗi giá trị dược liệu còn nhiều điểm nghẽn, nông dân và hợp tác xã vẫn manh mún, nhỏ lẻ, mạnh ai nấy làm. Doanh nghiệp lại khó đầu tư bài bản vì sản lượng thấp, nguồn cung không ổn định. Quan hệ giữa doanh nghiệp và người sản xuất nhiều khi chỉ mang tính thương vụ: khi cần thì mua, khi dư thừa thì dừng lại. Điều này khiến người sản xuất dễ bị bỏ rơi.
Muốn chuỗi giá trị thông suốt, trước hết phải quy hoạch vùng nguyên liệu đủ lớn, bảo đảm sản lượng để doanh nghiệp thấy có hiệu quả và sẵn sàng đầu tư. Khi đó, doanh nghiệp mới hướng dẫn quy trình, kiểm soát tiêu chuẩn và tổ chức lại nguồn cung.
Bên cạnh đó, địa phương cần có chính sách hỗ trợ về thuế, đất đai, hạ tầng giao thông, điện và điều kiện bảo quản, chế biến. Ở những vùng dược liệu lớn, cần đặt cơ sở chế biến gần vùng nguyên liệu.
Quan trọng hơn, phải phân rõ trách nhiệm từng bộ, ngành về phụ trách giống, cây trồng, vùng sinh thái; chuẩn hóa tiêu chuẩn, thúc đẩy thiết bị chế biến; kiểm soát dược chất, tránh thu hái non; lưu thông, phân phối và thương mại hóa. Nếu thiếu đồng bộ, ngành dược liệu sẽ vẫn rơi vào cảnh "bước chân hùng tráng nhưng dậm chân tại chỗ".
- Dược liệu Việt Nam có lợi thế lớn về đa dạng sinh học, tri thức bản địa và nền y học cổ truyền lâu đời. Theo ông, để biến lợi thế này thành thương hiệu quốc gia và sản phẩm xuất khẩu có giá trị cao cần ưu tiên những chính sách gì?
Chuyên gia Hoàng Trọng Thủy: Có 3 nhóm chính sách cần được ưu tiên:
Trước hết, hình thành vùng nguyên liệu đạt chuẩn, gắn với mã vùng trồng và mã cơ sở đóng gói theo tiêu chuẩn quốc tế. Thị trường nội địa rất quan trọng nhưng muốn đi vào xuất khẩu, dược liệu bắt buộc phải có vùng trồng ổn định, hệ thống tiêu chuẩn rõ ràng và được quản lý bằng mã số. Đi kèm với đó là chính sách đất đai, hạ tầng, dịch vụ hỗ trợ sản xuất. Không có vùng nguyên liệu đạt chuẩn thì rất khó nói đến chế biến sâu, xây dựng thương hiệu hay xuất khẩu bền vững.
Thứ hai, tập trung xây dựng thương hiệu, trong đó trọng tâm là thương hiệu doanh nghiệp và thương hiệu quốc gia. Đây là hai cấp độ có khả năng kết nối tốt nhất với hệ thống phân phối, trách nhiệm sản phẩm và toàn bộ chuỗi giá trị. Chính sách hỗ trợ cần cụ thể hơn, nhất là với doanh nghiệp tiên phong. Cần làm rõ hỗ trợ bản quyền là gì, hỗ trợ thương hiệu ra sao, hỗ trợ phát triển thị trường thế nào, mức hỗ trợ quảng bá tối đa bao nhiêu. Chính sách phải có công cụ thực hiện và thước đo hiệu quả.
Thứ ba, đào tạo người sản xuất chuyên nghiệp. Nông dân, tổ hợp tác, hợp tác xã phải được đào tạo để làm việc theo quy trình, theo hợp đồng và theo yêu cầu của chuỗi giá trị. Đặc biệt, cần đưa nông dân vào không gian số. Truy xuất nguồn gốc đáng tin cậy phải dựa trên nhật ký điện tử, ghi lại quá trình canh tác, chăm sóc, thu hái, sơ chế bằng dữ liệu số. Khi nông dân số và hợp tác xã số trở thành nền tảng, ngành dược liệu mới đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, minh bạch, thương hiệu và xuất khẩu.
Xin cảm ơn ông!
Việt Nam có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú với hơn 5.000 loài cây thuốc cùng nền tri thức y học cổ truyền có lịch sử hàng nghìn năm. Đây là tiềm năng, lợi thế rất lớn để phát triển ngành dược liệu, góp phần chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân, đồng thời phát triển kinh tế - xã hội.