Phát triển công nghệ chiến lược: 'Chìa khóa' nằm ở năng lực nội sinh

Theo TS. Trần Thị Thu Hiền, để phát triển công nghệ chiến lược, điều cốt lõi phải xây dựng được năng lực nội sinh để nghiên cứu, cải tiến và từng bước làm chủ công nghệ.

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, việc chủ động làm chủ và phát triển công nghệ chiến lược là “chìa khóa” giúp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, nâng cao năng lực tự chủ và tạo động lực tăng trưởng bền vững trong dài hạn.

Ngay sau khi ban hành Quyết định số 21/QĐ-TTg về Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 808/QĐ-TTg ngày 6/5/2026 giao nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược.

Theo đó, Bộ Công Thương được giao 3 nhiệm vụ: (1) Bảo đảm an ninh năng lượng cho tăng trưởng cao; hiện đại hóa hệ thống điện - nhiên liệu xanh, thông minh và tự chủ; (2) Tự chủ công nghiệp, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và nâng cấp chuỗi giá trị sản xuất xanh, thông minh, giá trị gia tăng cao; (3) Hiện đại hóa thương mại trong nước và ngoài nước bằng dữ liệu, logistics thông minh và chuỗi cung ứng tin cậy.

Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, TS. Trần Thị Thu Hiền, Phó Trưởng phòng Thông tin và Truyền thông, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương đã phân tích vì sao công nghệ chiến lược được xem là yếu tố then chốt quyết định năng lực cạnh tranh và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế; đồng thời đánh giá ý nghĩa của 3 nhiệm vụ giao cho Bộ Công Thương tại Quyết định số 808/QĐ-TTg và đề xuất các cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển mạnh mẽ các công nghệ chiến lược trong thời gian tới.

Đầu tư cho năng lực cạnh tranh dài hạn

- Thời gian qua, nhiều chủ trương, chính sách đã được ban hành nhằm thúc đẩy phát triển công nghệ chiến lược và khẳng định vai trò then chốt của lĩnh vực này đối với tăng trưởng kinh tế như Quyết định số 21/QĐ-TTg, Quyết định số 808/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Theo bà, vì sao công nghệ chiến lược lại được xem là yếu tố then chốt quyết định năng lực cạnh tranh và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay?

TS. Trần Thị Thu Hiền: Theo tôi, điểm khác biệt của công nghệ chiến lược so với các công nghệ thông thường là nó không chỉ tạo ra một sản phẩm mới mà còn làm thay đổi năng lực cạnh tranh của cả nền kinh tế.

TS. Trần Thị Thu Hiền, Phó Trưởng phòng Thông tin và Truyền thông, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương. Ảnh: Quốc Chuyển

TS. Trần Thị Thu Hiền, Phó Trưởng phòng Thông tin và Truyền thông, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương. Ảnh: Quốc Chuyển

Quốc gia nào làm chủ được công nghệ chiến lược sẽ có lợi thế trong kiểm soát chuỗi cung ứng, nâng cao năng suất lao động, gia tăng giá trị sản xuất và giảm sự phụ thuộc vào bên ngoài.

Trong bối cảnh hiện nay, cạnh tranh giữa các quốc gia không còn chủ yếu dựa vào tài nguyên hay lao động giá rẻ mà chuyển sang cạnh tranh về công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và khả năng tạo ra các ngành công nghiệp mới. Vì vậy, phát triển công nghệ chiến lược chính là đầu tư cho năng lực cạnh tranh dài hạn.

Đối với Việt Nam, đây còn là cơ hội để chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu. Nếu tận dụng tốt các công nghệ như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, năng lượng mới, vật liệu tiên tiến, dữ liệu lớn hay tự động hóa, chúng ta không chỉ nâng cao năng suất mà còn từng bước tham gia vào những khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Tuy nhiên, điều quan trọng cần nhìn nhận là công nghệ chiến lược không phải là mục tiêu tự thân. Giá trị lớn nhất của nó nằm ở khả năng được chuyển hóa thành năng lực sản xuất, năng lực đổi mới sáng tạo và sức cạnh tranh thực tế của doanh nghiệp cũng như của nền kinh tế.

- Tại Quyết định số 808/QĐ-TTg ngày 6/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược, Bộ Công Thương được giao 3 nhiệm vụ lớn. Bà nhận định như thế nào về ý nghĩa của các nhiệm vụ này đối với mục tiêu phát triển khoa học, công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh ngành Công Thương?

TS. Trần Thị Thu Hiền: Tôi cho rằng, 3 nhiệm vụ được giao cho Bộ Công Thương phản ánh rất rõ tư duy phát triển mới, đó là gắn phát triển công nghệ chiến lược với 3 trụ cột cốt lõi của nền kinh tế: Năng lượng, sản xuất công nghiệp và thương mại.

Thứ nhất, bảo đảm an ninh năng lượng gắn với hiện đại hóa hệ thống điện và phát triển nhiên liệu xanh là điều kiện tiên quyết để duy trì tăng trưởng kinh tế cao trong dài hạn. Một nền công nghiệp hiện đại không thể vận hành trên nền tảng năng lượng thiếu ổn định hoặc phụ thuộc quá lớn vào nguồn cung bên ngoài.

Thứ hai, nhiệm vụ nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và xây dựng chuỗi giá trị sản xuất xanh, thông minh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh doanh nghiệp Việt Nam vẫn chủ yếu tham gia ở các khâu gia công, lắp ráp. Công nghệ chiến lược sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao vị trí trong chuỗi giá trị, tạo ra nhiều giá trị gia tăng tỷ lệ nội địa hóa và tăng khả năng chống chịu trước các biến động quốc tế.

Thứ ba, hiện đại hóa thương mại bằng dữ liệu, logistics thông minh và chuỗi cung ứng tin cậy là xu hướng tất yếu của kinh tế số. Trong tương lai, lợi thế cạnh tranh không chỉ nằm ở việc sản xuất được hàng hóa mà còn ở khả năng kết nối thị trường, tối ưu logistics và quản trị chuỗi cung ứng dựa trên dữ liệu thời gian thực.

Có thể nói, ba nhiệm vụ này tạo thành một hệ sinh thái hoàn chỉnh, trong đó công nghệ là nền tảng, công nghiệp là động lực và thương mại là kênh lan tỏa giá trị.

Tập trung vào ba nhóm giải pháp

- Bà đánh giá ra sao về năng lực nghiên cứu, tiếp nhận và làm chủ các công nghệ chiến lược của các đơn vị nghiên cứu thuộc ngành Công Thương hiện nay? Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu, tham mưu xây dựng chính sách, Viện có những đề xuất gì nhằm thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, phát triển và làm chủ các công nghệ chiến lược thời gian tới, thưa bà?

TS. Trần Thị Thu Hiền: Thực tế cho thấy, năng lực nghiên cứu của các đơn vị thuộc ngành Công Thương đã có những bước tiến đáng ghi nhận, đặc biệt trong các lĩnh vực chuyển đổi số, năng lượng, tự động hóa và công nghệ phục vụ sản xuất.

Tuy nhiên, nếu nhìn thẳng vào thực trạng, khả năng làm chủ công nghệ lõi vẫn còn hạn chế. Khoảng cách lớn nhất hiện nay không phải là thiếu ý tưởng mà là thiếu sự liên kết hiệu quả giữa nghiên cứu, doanh nghiệp và thị trường.

Nhiều kết quả nghiên cứu chưa được thương mại hóa; doanh nghiệp chưa mạnh dạn đầu tư cho R&D; trong khi cơ chế tài chính, thử nghiệm và chia sẻ rủi ro cho đổi mới sáng tạo vẫn cần tiếp tục hoàn thiện.

Theo tôi, cần tập trung vào ba nhóm giải pháp. Một là, chuyển mạnh từ tư duy nghiên cứu theo đề tài sang nghiên cứu theo nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường.

Hai là, xây dựng các chương trình nghiên cứu quy mô lớn có sự tham gia đồng thời của viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm của quá trình ứng dụng.

Ba là, hoàn thiện cơ chế thử nghiệm chính sách, cơ chế đặt hàng nghiên cứu và cơ chế đầu tư mạo hiểm của Nhà nước đối với các công nghệ chiến lược có tính đột phá nhưng tiềm ẩn rủi ro cao.

- Để phát triển công nghệ chiến lược, vấn đề nguồn lực về nhân lực, tài chính và hạ tầng nghiên cứu được xem là yếu tố then chốt. Xin bà chia sẻ thêm, cần có những cơ chế, chính sách nào để khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực này?

TS. Trần Thị Thu Hiền: Theo tôi, phát triển công nghệ chiến lược cần được tiếp cận như một chính sách phát triển quốc gia mang tính dài hạn, chứ không chỉ là chính sách khoa học và công nghệ.

Trước hết, cần ưu tiên phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực như AI, bán dẫn, robot, năng lượng mới và vật liệu tiên tiến. Đây là yếu tố quyết định khả năng hấp thụ và sáng tạo công nghệ.

Tiếp theo là đổi mới cơ chế tài chính cho nghiên cứu và phát triển theo hướng linh hoạt hơn, chấp nhận rủi ro có kiểm soát, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho R&D thông qua ưu đãi thuế và các quỹ đổi mới sáng tạo.

Song song với đó là đầu tư xây dựng các trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm trọng điểm và hạ tầng số dùng chung, giúp giảm chi phí đầu tư và tăng khả năng hợp tác giữa các tổ chức nghiên cứu.

Một nội dung rất quan trọng nữa là thúc đẩy thị trường công nghệ. Chỉ khi doanh nghiệp nhìn thấy lợi ích kinh tế rõ ràng từ đổi mới sáng tạo thì đầu tư cho công nghệ mới thực sự trở thành động lực nội sinh.

Tôi cũng cho rằng, Việt Nam cần lựa chọn có trọng tâm, trọng điểm. Chúng ta không nên dàn trải nguồn lực trên quá nhiều lĩnh vực mà cần tập trung vào những công nghệ có lợi thế cạnh tranh, phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước và có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa lớn đối với ngành Công Thương.

Tóm lại, phát triển công nghệ chiến lược không đơn thuần là mua sắm thiết bị hiện đại hay tiếp nhận công nghệ từ bên ngoài. Điều cốt lõi là phải xây dựng được năng lực nội sinh để nghiên cứu, hấp thụ, cải tiến và từng bước làm chủ công nghệ. Nếu làm được điều đó, công nghệ chiến lược sẽ trở thành động lực mới giúp ngành Công Thương nâng cao năng suất, tăng sức cạnh tranh, thúc đẩy chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và đóng góp quan trọng vào mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của Việt Nam trong giai đoạn tới.

Xin cảm ơn bà!

Nghị quyết 57-NQ/TW đã nêu yêu cầu: Phát triển nhanh và bền vững, từng bước tự chủ về công nghệ, nhất là công nghệ chiến lược; ban hành chương trình phát triển công nghệ và công nghiệp chiến lược; có cơ chế thử nghiệm chính sách nhằm thúc đẩy nghiên cứu, phát triển, ứng dụng, chuyển giao công nghệ chiến lược…

Quỳnh Nga - Lan Anh (thực hiện)

Có thể bạn quan tâm