Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, PGS.TS Trịnh Trọng Chưởng, Trưởng ban Khoa học công nghệ và Đổi mới sáng tạo, Đại học Công nghiệp Hà Nội (HaUI), đã làm rõ những ngành và chương trình đào tạo mà nhà trường đang triển khai nhằm đón đầu, đáp ứng các xu hướng công nghệ chiến lược. Đồng thời, chia sẻ định hướng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, cùng những đề xuất về cơ chế, chính sách hỗ trợ các trường đại học trong hoạt động đào tạo, nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược.
Cải tiến các chương trình đào tạo
- Xin ông cho biết, trong bối cảnh công nghệ chiến lược ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, Đại học Công nghiệp Hà Nội đang triển khai những ngành, chương trình đào tạo nào nhằm đón bắt và đáp ứng các xu hướng công nghệ chiến lược hiện nay?
PGS.TS Trịnh Trọng Chưởng: Đại học Công nghiệp Hà Nội là một cơ sở đào tạo uy tín của Bộ Công Thương. Trong thời gian qua, Đại học Công nghiệp Hà Nội đã tập trung nguồn lực để triển khai những ngành/chương trình đào tạo mới để đón bắt và đáp ứng các xu hướng công nghệ chiến lược hiện nay. Hiện nay, HaUI đang đào tạo 72 ngành và chương trình đào tạo, tập trung vào các lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao và kinh tế số.
PGS.TS Trịnh Trọng Chưởng, Trưởng ban Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, Đại học Công nghiệp Hà Nội (HaUI). Ảnh: Quốc Chuyển
Từ khi Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1018/QĐ-TTg ban hành Chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn Việt Nam đến năm 2030 và tầm nhìn 2050, nhà trường đã chủ động tiếp cận và xác định rõ trách nhiệm, sứ mệnh của một cơ sở giáo dục công lập trong việc góp phần thực hiện thành công chiến lược này.
Trên cơ sở này, Đại học Công nghiệp Hà Nội đã triển khai đào tạo và nghiên cứu ở các lĩnh vực công nghệ kỹ thuật chiến lược gồm: Vi mạch bán dẫn, năng lượng tái tạo, trí tuệ nhân tạo nhằm cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành then chốt của quốc gia và xu thế phát triển toàn cầu trong tương lai.
Trong đó, vi mạch bán dẫn là lĩnh vực công nghệ cốt lõi của kỷ nguyên số, đóng vai trò nền tảng trong việc phát triển trí tuệ nhân tạo, triển khai các hệ thống IoT và xử lý dữ liệu lớn... với yêu cầu về hiệu năng vi mạch ngày càng cao. Vì vậy, đây là ngành có nhu cầu rất lớn về nguồn nhân lực chất lượng cao, không chỉ tại Việt Nam mà trên phạm vi toàn cầu.
Đối với Đại học Công nghiệp Hà Nội, việc xây dựng chương trình đào tạo được định hướng trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động trong nước và quốc tế. Theo đó, ngay khi có đội ngũ giảng viên đủ điều kiện, nhà trường đã chủ động tích hợp, bổ sung các học phần liên quan đến vi mạch bán dẫn vào các chương trình hiện có như: Công nghệ kỹ thuật điện tử - viễn thông, Công nghệ kỹ thuật máy tính... Điều này giúp sinh viên được trang bị kiến thức nền tảng về vi mạch bán dẫn, rút ngắn thời gian thích nghi và nhanh chóng tham gia vào công việc tại doanh nghiệp.
Đặc biệt, các ngành học triển khai đón bắt xu hướng công nghệ chiến lược tại HaUI được xây dựng bài bản bao gồm: Ngành vi mạch bán dẫn được thiết kế dựa trên nền tảng kỹ thuật máy tính, điện tử và tự động hóa nhằm đào tạo nhân lực thiết kế, mô phỏng, đóng gói và kiểm thử chip.
Ngành trí tuệ nhân tạo kết hợp cùng các ngành mũi nhọn có sẵn như công nghệ thông tin, kỹ thuật phần mềm và hệ thống thông tin, xây dựng lực lượng đáp ứng trực tiếp nhu cầu phát triển kinh tế số.
Sản xuất thông minh được xem là thế mạnh truyền thống của HaUI, bao gồm các ngành công nghệ kỹ thuật điều khiển và tự động hoá và công nghệ kỹ thuật cơ khí, liên tục được cập nhật công nghệ tự động hóa nhà máy và robot công nghiệp.
Công nghệ sinh học nằm trong nhóm ngành khoa học sự sống phục vụ cho phát triển nông nghiệp và y tế công nghệ cao.
- Trước nhu cầu nhân lực cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, tự động hóa... đang gia tăng mạnh mẽ, Đại học Công nghiệp Hà Nội đã có những định hướng và giải pháp gì để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, thưa ông?
PGS.TS Trịnh Trọng Chưởng: Để đáp ứng nhu cầu nhân lực công nghệ chiến lược cho các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, tự động hóa..., Đại học Công nghiệp Hà Nội bên cạnh việc mở mới các chương trình đào tạo như đã trao đổi ở trên, đồng thời cải tiến các chương trình đào tạo cốt lõi để bắt kịp xu hướng.
Thứ nhất, chúng tôi đầu tư cơ sở vật chất và hợp tác doanh nghiệp. Trong đó, về hợp tác công nghệ: Nhà trường đã chủ động hợp tác với các tập đoàn công nghệ lớn để tiếp nhận các gói tài trợ phần mềm, công cụ thiết kế vi mạch chuyên sâu, đưa sinh viên tham gia các chương trình đào tạo 3+1 tại các cơ sở đào tạo nước ngoài uy tín. Khuyến khích giảng viên tham gia làm việc, tư vấn tại doanh nghiệp, thời gian làm việc tư vấn tại doanh nghiệp vẫn được tính thời gian làm việc tại Đại học.
Về thực hành thực tế: Hệ thống phòng thí nghiệm và trang thiết bị thực hành được đầu tư nâng cấp, bám sát sự phát triển của công nghệ chiến lược.
Đại học Công nghiệp Hà Nội đã chuẩn bị sẵn sàng cho đào tạo nhân lực chất lượng cao đáp ứng ngành công nghiệp bán dẫn (Ảnh: HaUI)
Thứ hai, đổi mới chương trình và quốc tế hóa hoạt động đào tạo: Vận hành 15 chương trình giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh để thực hiện quốc tế hóa trong đào tạo đại học và xu hướng đầu tư FDI thế hệ mới.
Các chương trình đào tạo được tích hợp những nội dung mới như: Trí tuệ nhân tạo (AI); khoa học dữ liệu; Internet vạn vật (IoT); hệ thống nhúng; robot và điều khiển thông minh; chuyển đổi số; nhà máy thông minh (Smart Factory).
Các chương trình được thiết kế theo hướng thực nghiệm, tăng cường thời gian thực hành tại doanh nghiệp để sinh viên sẵn sàng làm việc ngay sau khi tốt nghiệp.
Bên cạnh đào tạo, HaUI chú trọng phát triển hệ sinh thái nghiên cứu và đổi mới sáng tạo: Khuyến khích sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học từ sớm; hỗ trợ các dự án khởi nghiệp công nghệ; tăng cường nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp; vận hành các nhóm nghiên cứu liên ngành về AI, tự động hóa, sản xuất thông minh và công nghệ số.
Xây dựng cơ chế hợp tác thực chất
- Để đáp ứng yêu cầu phát triển công nghệ chiến lược, theo ông đâu là những giải pháp cần thiết để tăng cường gắn kết giữa nhà trường, viện nghiên cứu và doanh nghiệp trong đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ?
PGS.TS Trịnh Trọng Chưởng: Để đáp ứng yêu cầu phát triển các công nghệ chiến lược, việc tăng cường gắn kết giữa nhà trường, viện nghiên cứu - nhà nước - doanh nghiệp là một yêu cầu then chốt. Theo tôi, cần triển khai đồng bộ các giải pháp sau:
Một là, xây dựng cơ chế hợp tác thực chất giữa ba bên: Thiết lập các chương trình hợp tác dài hạn thay vì chỉ ký kết mang tính hình thức. Doanh nghiệp tham gia ngay từ khâu xây dựng chương trình đào tạo, xác định nhu cầu nhân lực và định hướng nghiên cứu. Các viện nghiên cứu và trường đại học phối hợp với doanh nghiệp để giải quyết các bài toán công nghệ thực tiễn.
Hai là, đổi mới chương trình đào tạo theo nhu cầu thị trường. Cụ thể, cập nhật thường xuyên nội dung đào tạo theo xu hướng công nghệ mới và nhu cầu của doanh nghiệp; mời chuyên gia doanh nghiệp tham gia giảng dạy, hướng dẫn đồ án, luận văn; tăng thời lượng thực hành, thực tập tại doanh nghiệp để sinh viên được tiếp cận môi trường sản xuất và nghiên cứu thực tế.
Ba là, phát triển các trung tâm nghiên cứu và đổi mới sáng tạo chung. Theo đó, thành lập các phòng thí nghiệm, trung tâm R&D dùng chung giữa trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Doanh nghiệp cùng đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và đặt hàng các nhiệm vụ nghiên cứu. Đồng thời, tạo môi trường để giảng viên, nhà khoa học và kỹ sư doanh nghiệp cùng làm việc.
Bốn là, thúc đẩy cơ chế đặt hàng nghiên cứu và chuyển giao công nghệ: Doanh nghiệp chủ động đặt hàng các đề tài nghiên cứu xuất phát từ nhu cầu sản xuất, kinh doanh. Nhà nước có chính sách hỗ trợ tài chính, ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp đầu tư cho R&D và chuyển giao công nghệ. Cùng với đó, đơn giản hóa các thủ tục liên quan đến sở hữu trí tuệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Năm là, tăng cường luân chuyển và chia sẻ nguồn nhân lực. Cụ thể, khuyến khích giảng viên, nhà khoa học tham gia tư vấn, nghiên cứu tại doanh nghiệp; tạo điều kiện để chuyên gia doanh nghiệp tham gia giảng dạy và hướng dẫn nghiên cứu; xây dựng các chương trình đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ gắn với các dự án thực tế của doanh nghiệp.
Sáu là, hoàn thiện hệ sinh thái đổi mới sáng tạo: Hỗ trợ hình thành các doanh nghiệp khởi nguồn công nghệ (spin-off) từ trường đại học và viện nghiên cứu. Phát triển các quỹ đầu tư, vườn ươm công nghệ và trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp. Kết nối hiệu quả giữa nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và thương mại hóa sản phẩm.
Bảy là, hoàn thiện cơ chế, chính sách của nhà nước gồm: Ban hành các chính sách khuyến khích hợp tác công - tư trong nghiên cứu và phát triển công nghệ; xây dựng hệ thống đánh giá các trường, viện không chỉ dựa trên số lượng công bố khoa học mà còn dựa trên hiệu quả chuyển giao công nghệ và đóng góp cho doanh nghiệp; ưu tiên đầu tư cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược có khả năng tạo đột phá.
Tóm lại, để phát triển công nghệ chiến lược, cần hình thành mô hình liên kết "nhà nước - nhà trường/viện nghiên cứu - doanh nghiệp" theo hướng doanh nghiệp đặt ra nhu cầu, nhà trường và viện nghiên cứu cung cấp tri thức, công nghệ và nhân lực, còn nhà nước đóng vai trò kiến tạo cơ chế và hỗ trợ nguồn lực. Đây là con đường hiệu quả để rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu, đào tạo và ứng dụng thực tiễn.
Đầu tư trọng điểm thay vì dàn trải
- Từ thực tiễn hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học, ông có kiến nghị gì thêm về cơ chế, chính sách nhằm hỗ trợ các trường đại học trong hoạt động đào tạo, nghiên cứu phát triển công nghệ chiến lược?
PGS.TS Trịnh Trọng Chưởng: Bên cạnh các giải pháp về liên kết giữa nhà trường, viện nghiên cứu - nhà nước - doanh nghiệp, tôi cho rằng cần bổ sung một số cơ chế, chính sách trọng tâm để các trường đại học thực sự trở thành trung tâm đào tạo nhân lực chất lượng cao và nghiên cứu công nghệ chiến lược.
Sinh viên được thực hành, tiếp cận những công nghệ mới tại các phòng Lab hiện đại (Ảnh: HaUI)
Thứ nhất, tăng quyền tự chủ cho các trường đại học. Cụ thể, trao quyền chủ động hơn trong tuyển dụng, đãi ngộ nhân tài, xây dựng chương trình đào tạo và triển khai các dự án nghiên cứu; cho phép các trường áp dụng cơ chế tiền lương, thưởng đặc thù đối với các nhà khoa học xuất sắc trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược; đơn giản hóa các thủ tục hành chính trong quản lý và sử dụng kinh phí nghiên cứu.
Thứ hai, đầu tư trọng điểm thay vì dàn trải. Đó là việc lựa chọn một số trường đại học có tiềm năng để đầu tư trở thành trung tâm xuất sắc quốc gia về AI, bán dẫn, công nghệ sinh học, năng lượng mới, an ninh mạng... Đồng thời, tập trung nguồn lực xây dựng phòng thí nghiệm hiện đại, trung tâm nghiên cứu liên ngành đạt tiêu chuẩn quốc tế; hình thành các cụm nghiên cứu mạnh có khả năng cạnh tranh trong khu vực và thế giới.
Thứ ba, đổi mới cơ chế tài chính cho nghiên cứu khoa học gồm: Tăng tỷ lệ đầu tư cho R&D trong các trường đại học và doanh nghiệp; chuyển từ cơ chế cấp phát kinh phí bình quân sang cơ chế tài trợ theo kết quả đầu ra và mức độ tác động; thành lập các quỹ nghiên cứu quốc gia chuyên biệt cho công nghệ chiến lược với thủ tục tiếp cận thuận lợi hơn.
Thứ tư, có chính sách đặc biệt thu hút và giữ chân nhân tài: Hỗ trợ tài chính để thu hút các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế tham gia giảng dạy, nghiên cứu; có các chương trình học bổng, tài trợ nghiên cứu dài hạn cho giảng viên trẻ và nghiên cứu sinh xuất sắc; hỗ trợ nhà ở, điều kiện làm việc và môi trường nghiên cứu để giữ chân đội ngũ chất lượng cao.
Thứ năm, khuyến khích thương mại hóa kết quả nghiên cứu: Hướng dẫn và hỗ trợ thành lập doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off) từ các kết quả nghiên cứu trong trường đại học; xây dựng các quỹ đầu tư mạo hiểm và chương trình hỗ trợ đưa sản phẩm nghiên cứu ra thị trường.
Thứ sáu, đẩy mạnh hợp tác quốc tế: Tăng cường các chương trình đào tạo liên kết, nghiên cứu chung với các trường và viện nghiên cứu hàng đầu thế giới; hỗ trợ các trường tham gia mạng lưới nghiên cứu quốc tế, tiếp cận cơ sở dữ liệu, thiết bị và chuyên gia toàn cầu; tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến từ nước ngoài.
Thứ bảy, hoàn thiện cơ chế đặt hàng đào tạo và nghiên cứu: Nhà nước và doanh nghiệp cần đặt hàng rõ ràng về số lượng, chất lượng nhân lực và các nhiệm vụ nghiên cứu chiến lược; gắn nguồn kinh phí với khả năng đáp ứng các mục tiêu đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ; hình thành các chương trình quốc gia dài hạn về phát triển nguồn nhân lực cho các ngành công nghệ mũi nhọn.
Thứ tám, xây dựng cơ chế đánh giá phù hợp. Đánh giá trường đại học không chỉ dựa trên số lượng bài báo khoa học mà còn dựa trên: Bằng sáng chế và sở hữu trí tuệ; công nghệ được chuyển giao cho doanh nghiệp; doanh thu từ hoạt động khoa học công nghệ; số lượng doanh nghiệp khởi nguồn công nghệ; ,mức độ đóng góp cho các mục tiêu phát triển quốc gia.
Xin cảm ơn ông!
PGS.TS Trịnh Trọng Chưởng, Trưởng ban Khoa học công nghệ và Đổi mới sáng tạo, Đại học Công nghiệp Hà Nội kiến nghị, cần chuyển mạnh từ tư duy xem đại học chỉ là nơi đào tạo sang coi đại học là trung tâm đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và phát triển công nghệ. Khi đó, cơ chế đầu tư, quản trị, đánh giá và sử dụng nguồn lực cũng phải thay đổi tương ứng để các trường đại học có đủ điều kiện dẫn dắt sự phát triển của các công nghệ chiến lược trong tương lai.