Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số và thương mại toàn cầu biến động mạnh, các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới được xem là động lực quan trọng để mở rộng thị trường, thu hút đầu tư và tái cấu trúc chuỗi cung ứng. Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Ngô Chung Khanh - Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công Thương) đã phân tích dư địa từ các FTA thế hệ mới, những điểm nghẽn trong thực thi cũng như chiến lược đa dạng hóa thị trường và nâng cao năng lực doanh nghiệp trong giai đoạn tới.

Ông Ngô Chung Khanh - Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên, Bộ Công Thương. Ảnh: Trường Giang.
Dư địa thị trường từ các FTA thế hệ mới còn rất lớn
- Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng 2 con số, ông đánh giá vai trò của các FTA thế hệ mới ra sao trong việc mở rộng dư địa thị trường, thu hút đầu tư và tái cấu trúc chuỗi cung ứng ?
Ông Ngô Chung Khanh:Xét về các FTA thế hệ mới, hiện nay, có ba hiệp định tiêu biểu gồm: FTA Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA), FTA Việt Nam - Vương quốc Anh (UKVFTA), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).
Với các đối tác trong những hiệp định này, có thể thấy, nhiều thị trường chúng ta đã có quan hệ FTA từ trước. Chẳng hạn như Nhật Bản, Australia, các nước ASEAN hay Chile. Những thị trường này Việt Nam đã và đang khai thác khá hiệu quả thông qua các FTA song phương và đa phương trước đây.
Tuy nhiên, có một số thị trường mà Việt Nam chỉ mới có FTA thông qua các hiệp định thế hệ mới như Liên minh châu Âu, Canada, Mexico hay Vương quốc Anh. Đối với những thị trường này, dư địa phát triển còn rất lớn.
Chẳng hạn, Liên minh châu Âu có tổng kim ngạch nhập khẩu khoảng 2.000 tỷ USD mỗi năm, trong khi xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này mới đạt khoảng hơn 50 tỷ USD, tương đương thị phần chỉ hơn 2%. Tương tự, Canada nhập khẩu khoảng 700 tỷ USD mỗi năm nhưng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam mới đạt khoảng hơn 7 tỷ USD, tức khoảng gần 1%. Mexico có tổng kim ngạch nhập khẩu khoảng 600 tỷ USD, trong khi xuất khẩu của Việt Nam chỉ khoảng 5 - 5,5 tỷ USD, tương đương hơn 0,8%.
Như vậy, mặc dù các FTA thế hệ mới đã giúp nhiều mặt hàng của Việt Nam được hưởng mức thuế nhập khẩu gần như 0% sau một lộ trình nhất định, nhưng thị phần của chúng ta tại các thị trường này vẫn còn rất nhỏ. Điều đó cho thấy dư địa để Việt Nam mở rộng xuất khẩu và đa dạng hóa thị trường thông qua các FTA thế hệ mới vẫn còn rất lớn, đặc biệt trong bối cảnh thương mại quốc tế có nhiều biến động.
Một điểm đáng chú ý nữa là nhiều đối tác trong các FTA thế hệ mới có thế mạnh rất lớn về công nghệ. Liên minh châu Âu, chẳng hạn, có thế mạnh về công nghệ công nghiệp, năng lượng, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số, những lĩnh vực rất phù hợp với định hướng phát triển của Việt Nam.
Hiện nay, EU cũng đang có những điều chỉnh quan trọng trong chính sách thương mại khi đẩy mạnh đa dạng hóa đối tác. Thời gian qua, EU tích cực thúc đẩy đàm phán và hoàn tất nhiều FTA. Có những hiệp định đã đàm phán hơn 20 năm như với khối Mercosur nhưng gần đây đang được đẩy nhanh để hoàn tất. EU cũng vừa kết thúc đàm phán FTA với Indonesia và đang thúc đẩy các cuộc đàm phán với một số đối tác khác.
Điều này cho thấy EU đang có sự chuyển hướng mạnh mẽ trong chính sách thương mại, mở ra nhiều cơ hội hơn cho Việt Nam trong việc thúc đẩy trao đổi thương mại và hợp tác chuỗi cung ứng, đặc biệt trong bối cảnh quan hệ hai bên đã được nâng cấp lên đối tác chiến lược toàn diện.
Hiện nay Bộ Công Thương cũng đang trao đổi với Ủy ban châu Âu về việc thành lập một tổ công tác đặc biệt giữa Chính phủ Việt Nam và Ủy ban châu Âu. Nếu triển khai được, đây sẽ là cơ hội rất tốt để tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực công nghệ và chuỗi cung ứng.
Cùng với những thay đổi trong chính sách của Canada hay Vương quốc Anh, tôi cho rằng các FTA thế hệ mới đã tạo ra một nền tảng rất thuận lợi. Trong bối cảnh địa chính trị toàn cầu có nhiều biến động, bên cạnh những thách thức thì cơ hội cho Việt Nam cũng đang gia tăng khi nhiều đối tác tích cực tìm kiếm các thị trường và đối tác mới.
Điểm nghẽn lớn nhất là quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật và năng lực doanh nghiệp
- Thực tế cho thấy không ít doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, vẫn chưa tận dụng tốt các cam kết FTA. Theo ông, đâu là điểm nghẽn lớn nhất trong thực thi từ quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật đến năng lực đáp ứng của doanh nghiệp và Bộ Công Thương sẽ có giải pháp gì để biến cam kết trên giấy thành tăng trưởng thực chất?
Ông Ngô Chung Khanh:Thực tế cho thấy Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong việc tận dụng FTA, thể hiện qua kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng, thặng dư thương mại duy trì ở mức cao và quan hệ thương mại với nhiều đối tác ngày càng mở rộng.
Tuy nhiên, qua tổng hợp ý kiến từ các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp, Bộ Công Thương cũng nhận thấy vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục cải thiện. Trong đó, các yếu tố như quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật và năng lực của doanh nghiệp được xem là những điểm nghẽn cốt lõi.
Đối với quy tắc xuất xứ, cần nhìn nhận theo từng hiệp định và từng nhóm mặt hàng cụ thể. Với các FTA truyền thống như ASEAN hay các hiệp định với Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên minh Kinh tế Á - Âu…, quy tắc xuất xứ tương đối quen thuộc nên doanh nghiệp đã có nhiều kinh nghiệm thực hiện.
Tuy nhiên, đối với các FTA thế hệ mới, quy tắc xuất xứ thường phức tạp hơn và được thiết kế riêng cho từng nhóm hàng. Ví dụ, nhiều sản phẩm phải bảo đảm nguyên liệu được sản xuất trong nước hoặc được nhập khẩu từ các quốc gia có thể cộng gộp xuất xứ theo quy định của hiệp định.
Đối với các mặt hàng nông sản, thủy sản, Việt Nam ít gặp khó khăn do phần lớn được sản xuất trong nước và có giá trị gia tăng cao. Tuy nhiên, đối với các ngành như dệt may, da giày hay điện tử, hàm lượng giá trị gia tăng tại Việt Nam vẫn còn khiêm tốn do phải nhập khẩu nhiều nguyên liệu và linh kiện từ nước ngoài.
Đây cũng là lý do khiến tỷ lệ tận dụng ưu đãi từ các FTA dù đã tăng theo thời gian nhưng vẫn chưa đạt kỳ vọng, hiện mới đạt khoảng trên 35%.
Về tiêu chuẩn kỹ thuật, khi xuất khẩu sang các thị trường truyền thống, tiêu chuẩn thường có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam nên doanh nghiệp ít gặp khó khăn. Tuy nhiên, đối với các thị trường như EU, Canada hay Vương quốc Anh, tiêu chuẩn kỹ thuật thường cao hơn và cách tiếp cận quản lý cũng khác biệt.
Các tiêu chuẩn này lại thường xuyên được cập nhật, vì vậy doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa cần có nguồn lực về vốn, công nghệ và thông tin để có thể đáp ứng.
Về năng lực doanh nghiệp, qua tổng kết có thể thấy có 5 nhóm vấn đề chính. Thứ nhất là thiếu đơn hàng. Thứ hai là thiếu thông tin về thị trường và quy định nhập khẩu. Thứ ba là khó tiếp cận nguồn tài chính và tín dụng. Thứ tư là chưa xây dựng được thương hiệu. Thứ năm là thiếu sự tư vấn và hỗ trợ tổng thể trong quá trình tham gia thị trường quốc tế.
Để hỗ trợ doanh nghiệp, Bộ Công Thương đã triển khai nhiều giải pháp. Trong đó, có ba trụ cột chính.
Thứ nhất, xây dựng Cổng thông tin FTA nhằm cung cấp đầy đủ thông tin và hướng dẫn cho doanh nghiệp về các hiệp định cũng như các thị trường xuất khẩu.
Thứ hai, xây dựng Bộ chỉ số đánh giá thực thi FTA tại các địa phương nhằm nâng cao sự chủ động của địa phương trong hỗ trợ doanh nghiệp. Năm 2025, lần đầu tiên việc đánh giá này được tổ chức với sự tham dự của Thủ tướng Chính phủ. Hiện, Bộ Công Thương đang chuẩn bị công bố báo cáo đánh giá năm 2025 và ghi nhận điểm trung bình của các địa phương đã được cải thiện đáng kể. Sau buổi công bố, đã có rất nhiều các địa phương như Hải Phòng, Hà Nội, Đà Nẵng đã chủ động xây dựng các kế hoạch thực hiện để nâng cao các chỉ số xếp hạng. Qua đó, có các biện pháp cụ thể hơn, thiết thực hơn để hỗ trợ doanh nghiệp.
Thứ ba, xây dựng hệ sinh thái tận dụng FTA với sự tham gia của nhiều chủ thể như nông dân, doanh nghiệp, cơ quan quản lý và hiệp hội ngành hàng. Hệ sinh thái này đã được trình Chính phủ và kỳ vọng sẽ sớm được triển khai trong thời gian tới.
Hiệp định thương mại với những ưu đãi có thể tạo cú hích nhanh cho xuất khẩu
- Bên cạnh các FTA quy mô lớn và toàn diện, liệu Việt Nam có tính đến phương án đàm phán thêm các hiệp định song phương (BTA) với phạm vi cam kết hẹp hơn để tạo cú hích nhanh cho xuất khẩu?
Ông Ngô Chung Khanh:Thủ tướng Chính phủ đã nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu đa dạng hóa thị trường trong bối cảnh hiện nay. Để thực hiện mục tiêu đó, một trong những giải pháp quan trọng là mở rộng các hình thức tiếp cận thị trường ưu đãi.
Các hình thức tiếp cận thị trường ưu đãi có thể chia thành ba nhóm.
Thứ nhất, các FTA thế hệ mới với tiêu chuẩn cao và phạm vi cam kết rộng. Tuy nhiên, các hiệp định này thường mất nhiều thời gian đàm phán do liên quan đến nhiều lĩnh vực như lao động, môi trường, thương mại số hay mua sắm chính phủ. Ví dụ, CPTPP mất khoảng 9 năm để hoàn tất đàm phán.
Thứ hai, các FTA truyền thống với tiêu chuẩn thấp hơn nhưng vẫn bao gồm nhiều nội dung nên thời gian đàm phán cũng khá dài.
Thứ ba, các Hiệp định thương mại ưu đãi (PTA). Đây là loại hiệp định mang tính thực dụng hơn vì hai bên có thể chỉ tập trung vào một số mặt hàng thế mạnh mà không cần đàm phán toàn bộ các lĩnh vực.
Các bên có thể lựa chọn danh mục hàng hóa quan tâm và thống nhất lộ trình cắt giảm thuế trong một khoảng thời gian nhất định. Thời gian đàm phán thường chỉ khoảng 3 - 5 tháng.
Theo tôi, đây là cách tiếp cận phù hợp trong bối cảnh hiện nay vì có thể đàm phán nhanh với nhiều đối tác và tạo ra hiệu quả sớm cho mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu.
Chiến lược đàm phán FTA cần linh hoạt theo từng đối tác
- Trong bối cảnh thương mại toàn cầu phân mảnh và tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe, chiến lược đàm phán FTA của Việt Nam nên ưu tiên những nội dung nào, thưa ông?
Ông Ngô Chung Khanh:Theo tôi được biết, Bộ Công Thương hiện đang xây dựng chiến lược đàm phán FTA trong giai đoạn tới. Đây là bước đi rất cần thiết trong bối cảnh thương mại quốc tế đang thay đổi nhanh chóng.
Từ góc độ cá nhân, tôi cho rằng, việc đàm phán FTA cần được thực hiện theo hướng thực dụng và linh hoạt, tùy thuộc vào đặc điểm của từng đối tác.
Có những đối tác mà Việt Nam cần mở rộng thị trường xuất khẩu. Nhưng cũng có những đối tác mà chúng ta cần thu hút công nghệ hoặc đầu tư.
Đối với những đối tác chú trọng mở rộng thị trường, họ có thể không đặt nặng các tiêu chuẩn về lao động hay môi trường. Tuy nhiên, đối với những đối tác định hướng phát triển bền vững, các tiêu chuẩn này sẽ được đặt ra rất cao.
Việt Nam hiện đã tham gia nhiều FTA tiêu chuẩn cao như CPTPP hay EVFTA, vì vậy chúng ta hoàn toàn có khả năng tham gia các hiệp định thương mại thế hệ mới. Do đó, cách tiếp cận phù hợp là lựa chọn nội dung đàm phán linh hoạt theo từng đối tác để đạt hiệu quả cao nhất.
Doanh nghiệp cần minh bạch chuỗi cung ứng và đa dạng hóa thị trường
- Hoa Kỳ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Trong bối cảnh nước này đang xây dựng chính sách thuế mới, doanh nghiệp cần làm gì?
Ông Ngô Chung Khanh:Điều đầu tiên, doanh nghiệp cần làm là theo dõi chặt chẽ các chính sách thuế của Hoa Kỳ và chủ động tiếp cận các cơ quan quản lý để có được thông tin chính xác.
Nếu hiểu chưa đầy đủ hoặc hiểu sai về chính sách, doanh nghiệp có thể đưa ra những chiến lược kinh doanh không phù hợp, dẫn đến tâm lý lo lắng không cần thiết hoặc đánh giá quá lạc quan về thị trường. Vì vậy, thông tin chính xác từ các nguồn tin cậy là yếu tố quan trọng nhất.
Thứ hai, doanh nghiệp cần minh bạch chuỗi cung ứng và nguồn gốc nguyên vật liệu, hạn chế tối đa các hành vi gian lận xuất xứ hoặc chuyển tải bất hợp pháp. Đây là vấn đề rất nhạy cảm đối với Hoa Kỳ và được cơ quan quản lý của nước này đặc biệt quan tâm.
Việc minh bạch chuỗi cung ứng không chỉ giúp giảm rủi ro trong ngắn hạn mà còn góp phần xây dựng chuỗi cung ứng bền vững hơn, qua đó nâng cao uy tín và giá trị của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Thứ ba, doanh nghiệp cần chủ động đa dạng hóa thị trường. Việt Nam hiện đã có nhiều FTA với các thị trường lớn nhưng mức độ tận dụng vẫn còn khiêm tốn. Ví dụ, EVFTA đã có hiệu lực khoảng 6 năm và CPTPP khoảng 7 - 8 năm nhưng vẫn còn nhiều doanh nghiệp chưa khai thác hết các ưu đãi từ các hiệp định này.
Trong khi đó, nhiều quốc gia khác như Indonesia, Ấn Độ hay Thái Lan cũng đang thúc đẩy ký kết FTA với EU, khiến lợi thế thuế quan của Việt Nam có thể dần thu hẹp.
Vì vậy, doanh nghiệp cần nhanh chóng tận dụng các FTA hiện có, vừa duy trì các thị trường chủ lực, vừa mở rộng sang các thị trường mới nhằm nâng cao tính bền vững của hoạt động xuất khẩu.
- Trân trọng cảm ơn ông!
Theo ông Ngô Chung Khanh, các FTA thế hệ mới như EVFTA, CPTPP hay UKVFTA đang mở ra dư địa thị trường rất lớn cho hàng hóa Việt Nam khi nhiều mặt hàng đã được hưởng thuế nhập khẩu gần 0%. Tuy nhiên, thị phần của Việt Nam tại các thị trường lớn như EU, Canada hay Mexico vẫn còn khá khiêm tốn, cho thấy tiềm năng tăng trưởng xuất khẩu trong thời gian tới vẫn còn rất rộng mở.




