Nhân lực Việt Nam trước yêu cầu mới của thị trường lao động

Báo cáo của Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam chỉ ra khoảng cách năng lực sinh viên mới tốt nghiệp và kỳ vọng tuyển dụng, đặt ra yêu cầu đổi mới đào tạo trong kỷ nguyên số.

Trong khuôn khổ Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số và Triển lãm giáo dục, công nghệ giáo dục năm 2026 do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức, Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam phối hợp Công ty Nghiên cứu Decision Lab công bố báo cáo “Nâng tầm nhân lực Việt Nam 2026: Sinh viên ra trường liệu đã sẵn sàng để thành công trong một thế giới đầy cơ hội mới?”.

Nghiên cứu được thực hiện dựa trên khảo sát 375 nhà tuyển dụng và người ra quyết định tuyển dụng thuộc 6 nhóm ngành tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, cùng 20 cuộc phỏng vấn chuyên sâu. Kết quả cho thấy những thay đổi đáng chú ý trong kỳ vọng của doanh nghiệp, đồng thời đặt ra yêu cầu tăng cường kết nối giữa giáo dục đại học và thị trường lao động.

Trí tuệ nhân tạo trở thành năng lực phổ biến

Chia sẻ về báo cáo, ông Paul Julian Bennett, Giám đốc Điều hành khối Marketing và Tuyển sinh, Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam cho biết, trong bảy nhóm năng lực được doanh nghiệp đánh giá, năng lực áp dụng công nghệ là nhóm duy nhất sinh viên mới tốt nghiệp cơ bản đáp ứng kỳ vọng.

Tuy nhiên, có tới 94% nhà tuyển dụng cho biết kỳ vọng về năng lực số và trí tuệ nhân tạo đã tăng trong hai đến ba năm qua. Đáng chú ý, 83% cho biết trí tuệ nhân tạo đã hoặc đang bắt đầu làm thay đổi tiêu chí tuyển dụng đối với sinh viên mới tốt nghiệp.

Ông Paul Julian Bennett, Giám đốc Điều hành khối Marketing và Tuyển sinh, Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam.

Ông Paul Julian Bennett, Giám đốc Điều hành khối Marketing và Tuyển sinh, Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam.

Trong khi chỉ 3% doanh nghiệp yêu cầu ứng viên có kỹ năng lập trình hoặc phân tích dữ liệu liên quan đến trí tuệ nhân tạo, 79% mong muốn cử nhân mới ra trường sử dụng thành thạo các công cụ trí tuệ nhân tạo phổ biến hoặc biết ứng dụng công nghệ này để giải quyết những bài toán cụ thể trong công việc.

Những con số cho thấy trí tuệ nhân tạo không chỉ tạo ra nhu cầu về nhân sự chuyên sâu công nghệ, mà đang dần trở thành năng lực cần thiết ở nhiều vị trí việc làm. Dù vậy, khả năng sử dụng công nghệ không đồng nghĩa với năng lực làm việc toàn diện.

Báo cáo chỉ ra cả 7 nhóm năng lực đều được 74-86% nhà tuyển dụng đánh giá quan trọng, nhưng 6 nhóm chưa đáp ứng kỳ vọng. Khoảng cách lớn nhất thuộc về quản lý thời gian, với 26 điểm phần trăm; tiếp đến là giải quyết vấn đề, với 23 điểm phần trăm. Năng lực giao tiếp và thích ứng cũng ghi nhận khoảng cách lần lượt 12 và 11 điểm phần trăm. Riêng năng lực số được đánh giá cao hơn kỳ vọng 3 điểm phần trăm.

Tại tọa đàm chuyên gia “Định hình chân dung nhân tài thời đại 4.0”, bà Ngô Thị Ngọc Lan, Giám đốc Điều hành Navigos Search cho rằng, hạn chế trong quản lý thời gian gắn với khả năng lập kế hoạch, xác định ưu tiên và thực hiện cam kết. “Bạn không có thời gian để giải quyết tất cả mọi việc nhưng bạn sẽ có đủ thời gian để giải quyết những việc quan trọng nhất”, bà Lan chia sẻ.

Theo bà Lan, năng lực giải quyết vấn đề còn đòi hỏi tư duy phản biện, khả năng đặt câu hỏi và chủ động tìm hiểu nguyên nhân trước khi đưa ra phương án xử lý.

Ở góc độ giáo dục, Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Anh, Thành viên Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển Nhân lực, nhấn mạnh sự khác biệt giữa sử dụng công nghệ và vận dụng công nghệ để tạo ra hiệu quả thực chất. 

Thu hẹp khoảng cách bằng hợp tác giữa đại học và doanh nghiệp

Bên cạnh yêu cầu nâng cao năng lực, báo cáo “Nâng tầm nhân lực Việt Nam 2026: Sinh viên ra trường liệu đã sẵn sàng để thành công trong một thế giới đầy cơ hội mới?” cũng cho thấy hợp tác giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp vẫn tập trung chủ yếu vào tuyển dụng.

Theo đó, có 59% nhà tuyển dụng tiếp nhận sinh viên thực tập, 43% có chương trình tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp, nhưng chỉ 15% tham gia góp ý chương trình đào tạo và 10% hỗ trợ đồ án tốt nghiệp hoặc nghiên cứu chung. Đáng chú ý, 23% cho biết chưa hợp tác với trường đại học nào.

Các khách mời tại tọa đàm.

Các khách mời tại tọa đàm.

Tiến sĩ Lê Quốc Vinh, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Truyền thông Lê nhìn nhận, doanh nghiệp cũng có trách nhiệm tham gia phát triển nguồn nhân lực thay vì chỉ chờ đợi nhà trường cung cấp ứng viên đáp ứng sẵn yêu cầu. Ông đã từng hợp tác với Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam xây dựng chương trình thực tập, trong đó sinh viên tham gia dự án áp lực cao kéo dài 36 giờ, phải xử lý yêu cầu chuyên môn, phối hợp nhóm và các tình huống phát sinh.

Về phía cơ sở đào tạo, Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Anh cho rằng, hợp tác cần được triển khai từ cả hai phía. Nhà trường chủ động kết nối, mời doanh nghiệp góp ý chương trình, tham gia giảng dạy và đánh giá; đồng thời bảo đảm sinh viên có kiến thức nền tảng, tác phong chuyên nghiệp và tinh thần trách nhiệm.

Bà Ngô Thị Ngọc Lan cũng đề xuất tăng cường đối thoại trực tiếp giữa nhà trường và doanh nghiệp, đồng thời tận dụng phản hồi từ sinh viên sau mỗi kỳ thực tập để nhận diện những nội dung đào tạo cần cải thiện.

Một phát hiện đáng chú ý khác của báo cáo là nhà tuyển dụng không xem việc từng đi thực tập như bằng chứng đầy đủ về khả năng sẵn sàng làm việc. Giá trị của trải nghiệm nằm ở nhiệm vụ thực chất, phản hồi nhận được và những đóng góp cụ thể mà sinh viên có thể chứng minh.

Bên cạnh đó, kinh nghiệm làm việc liên quan và chứng chỉ nghề nghiệp là hai minh chứng được nhà tuyển dụng chấp nhận nhiều nhất để thay thế bằng cấp của một trường danh tiếng, với tỷ lệ lần lượt 44% và 26%.

Thông qua báo cáo và các cuộc trao đổi chuyên gia, Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam kỳ vọng góp phần thúc đẩy sự gắn kết giữa giáo dục và doanh nghiệp, hướng tới đào tạo nguồn nhân lực có khả năng vận dụng kiến thức, công nghệ và giải quyết hiệu quả các vấn đề thực tiễn.

Hoàng Thanh

Có thể bạn quan tâm