Nghị quyết số 10-NQ/TW: Tạo 'đường băng' đưa Việt Nam thành cứ điểm công nghệ

Nghị quyết số 10-NQ/TW được các chuyên gia, cộng đồng doanh nghiệp đánh giá là bước chuyển quan trọng trong chính sách thu hút FDI, mở cơ hội đón dòng vốn công nghệ cao vào Việt Nam.

Định hình thế hệ FDI mới

Sau gần 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã thu hút hơn 500 tỷ USD vốn FDI đăng ký, trong đó hơn 330 tỷ USD đã được thực hiện. Khu vực FDI hiện đóng góp khoảng 20% GDP, hơn 70% kim ngạch xuất khẩu, khoảng 50% giá trị sản xuất công nghiệp và tạo việc làm trực tiếp cho hơn 5 triệu lao động. Những con số này khẳng định vai trò quan trọng của khu vực đầu tư nước ngoài đối với tăng trưởng, sản xuất, xuất khẩu và việc làm.

Tuy nhiên, yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới đang đặt ra một bài toán khác. Việt Nam cần nâng chất lượng dòng vốn FDI, ưu tiên các dự án có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, khả năng chuyển giao công nghệ và liên kết sâu với doanh nghiệp trong nước. Đây cũng là điều kiện để mô hình tăng trưởng chuyển mạnh sang dựa trên năng suất, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã xác lập bước chuyển từ thu hút vốn đơn thuần sang lựa chọn dòng vốn có chất lượng, mang theo công nghệ, năng lực quản trị và khả năng kết nối chuỗi giá trị.

Nghị quyết đặt mục tiêu: "Quản lý và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài nhằm nâng cao năng lực sản xuất, tạo sự liên kết, lan tỏa với các khu vực kinh tế trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và tham gia sâu các chuỗi cung ứng toàn cầu; góp phần xác lập mô hình tăng trưởng mới trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tăng cường năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ chiến lược, nâng cao vị thế và uy tín quốc gia; tạo động lực quan trọng thực hiện thành công các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và năm 2045"; "Phấn đấu đưa Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo, chất lượng dịch vụ công và năng lực tiếp nhận các dự án đầu tư nước ngoài chất lượng cao"; "75% vốn đầu tư nước ngoài đến từ các nền kinh tế phát triển, có tiềm lực về công nghệ, vốn và quản trị hiện đại"...

Nghị quyết số 10-NQ/TW xác lập bước chuyển từ thu hút vốn đơn thuần sang lựa chọn dòng vốn có chất lượng, mang theo công nghệ, năng lực quản trị và khả năng kết nối chuỗi giá trị.

Nghị quyết số 10-NQ/TW xác lập bước chuyển từ thu hút vốn đơn thuần sang lựa chọn dòng vốn có chất lượng, mang theo công nghệ, năng lực quản trị và khả năng kết nối chuỗi giá trị.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, luật sư Nguyễn Hồng Chung - Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Liên Chi hội Tài chính khu công nghiệp Việt Nam nhận định, Nghị quyết số 10-NQ/TW mở ra giai đoạn mới trong chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam. Trọng tâm của giai đoạn này là lựa chọn những dự án có chất lượng cao, hàm lượng công nghệ lớn, giá trị gia tăng cao, năng lực quản trị hiện đại và khả năng tạo liên kết bền vững với khu vực kinh tế trong nước.

Mục tiêu phấn đấu 75% vốn đầu tư nước ngoài đến từ các nền kinh tế phát triển có tiềm lực về công nghệ, vốn và quản trị hiện đại đặt ra yêu cầu rất cao đối với môi trường đầu tư của Việt Nam. Nhà đầu tư công nghệ cao quan tâm tới sự ổn định của chính sách, tính minh bạch của pháp luật, chất lượng nguồn nhân lực, khả năng cung ứng năng lượng, hạ tầng số, hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ và năng lực nghiên cứu phát triển. Vì vậy, lợi thế về chi phí hay quy mô thị trường sẽ chưa đủ để tạo sức cạnh tranh lâu dài.

Theo ông Chung, Việt Nam đang có cơ hội thu hút thêm các dự án trong lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, điện tử, công nghệ số, năng lượng sạch, thiết bị y tế và các ngành sản xuất có giá trị gia tăng cao. Tuy nhiên, nhiều quốc gia trong khu vực cũng đang triển khai các gói ưu đãi lớn để thu hút cùng một nhóm nhà đầu tư. Việt Nam cần tạo khác biệt bằng chất lượng thể chế, tốc độ xử lý thủ tục, khả năng chuẩn bị mặt bằng, nguồn điện ổn định và nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của các ngành công nghệ cao.

Chính sách ưu đãi cũng cần chuyển mạnh sang cách tiếp cận có điều kiện. Nhà nước có thể gắn các cơ chế hỗ trợ với cam kết cụ thể về nghiên cứu phát triển, chuyển giao công nghệ, đào tạo lao động kỹ thuật, sử dụng nhà cung cấp trong nước và hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo. Cách tiếp cận này sẽ giúp nguồn vốn đầu tư nước ngoài tạo giá trị lan tỏa lớn hơn đối với nền kinh tế.

Vị chuyên gia cũng cho rằng năng lực của doanh nghiệp Việt Nam là một mắt xích rất quan trọng. Nếu doanh nghiệp trong nước chưa đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, quản trị và chất lượng sản phẩm mà các tập đoàn toàn cầu yêu cầu thì khả năng tham gia chuỗi cung ứng sẽ bị hạn chế. Nhà nước cần đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp nâng cấp công nghệ, quản trị, tiêu chuẩn sản xuất và năng lực nghiên cứu phát triển.

"Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt ra yêu cầu Việt Nam phải thu hút được dòng vốn tốt hơn và nâng năng lực hấp thụ của nền kinh tế. Dòng vốn công nghệ cao sẽ phát huy giá trị lớn nhất khi doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, tiếp nhận được công nghệ và từng bước nâng vị thế trong mạng lưới sản xuất toàn cầu", luật sư Nguyễn Hồng Chung nhấn mạnh.

Cơ hội nâng vị thế Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu

Đồng quan điểm, TS. Lê Duy Bình - Giám đốc Economica Việt Nam đánh giá, Nghị quyết số 10-NQ/TW thể hiện tư duy mới trong cách nhìn nhận khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Việt Nam cần chuyển mạnh từ quan tâm đến quy mô vốn sang đánh giá chất lượng đóng góp, hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng và khả năng lan tỏa của mỗi dự án đối với nền kinh tế.

Theo ông, các dự án trong lĩnh vực bán dẫn, trung tâm dữ liệu, công nghệ số, năng lượng sạch hay sản xuất thiết bị công nghệ cao có khả năng tạo thêm việc làm chất lượng cao, thúc đẩy đổi mới công nghệ và nâng năng suất tổng hợp của nền kinh tế. Dòng vốn này còn có thể mở rộng nhu cầu về linh kiện, thiết bị, dịch vụ kỹ thuật và các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, qua đó tạo thêm cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng. Đây là một trong những điều kiện quan trọng để Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn.

"Yếu tố quyết định vẫn nằm ở năng lực nội sinh của doanh nghiệp Việt Nam. Doanh nghiệp cần tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, từng bước làm chủ công nghệ, nâng chất lượng quản trị và tham gia sâu hơn vào công nghiệp hỗ trợ. Năng lực sản xuất linh kiện, chi tiết và sản phẩm trung gian có hàm lượng công nghệ cao sẽ quyết định khả năng tham gia của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị của các ngành công nghệ cao", vị chuyên gia phân tích.

Theo ông, hàm lượng công nghệ và tỷ lệ nội địa hóa tăng sẽ giúp giữ lại nhiều giá trị gia tăng hơn trong nền kinh tế. Nhờ đó xuất khẩu có thể tăng về quy mô đồng thời cải thiện về chất lượng. Doanh nghiệp Việt Nam cũng có thêm điều kiện nâng sức cạnh tranh, mở rộng thị trường và tiến lên những khâu có giá trị cao hơn trong chuỗi sản xuất.

Từ góc độ nhà đầu tư, ông Ko Tae Yeon - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam (KoCham) cho rằng, định hướng của Việt Nam là phù hợp với yêu cầu phát triển mới. Tuy nhiên, chuyển giao công nghệ và mở rộng hoạt động nghiên cứu phát triển phụ thuộc lớn vào mức độ tin cậy của môi trường đầu tư.

Theo ông, Việt Nam cần tiếp tục tăng cường bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và dữ liệu, bảo đảm tính ổn định của hợp đồng đồng thời xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp minh bạch. Những yếu tố này sẽ giúp doanh nghiệp yên tâm đưa công nghệ, dữ liệu nghiên cứu và các hoạt động có hàm lượng tri thức cao vào Việt Nam.

Cùng đó, triển khai hợp tác công nghệ theo lộ trình phù hợp với đặc thù từng ngành và năng lực của doanh nghiệp. Các trung tâm R&D đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là kỹ sư, chuyên gia trí tuệ nhân tạo, dữ liệu và nghiên cứu phát triển. Doanh nghiệp quan tâm nhiều đến chất lượng hạ tầng số, khả năng cung ứng điện ổn định và các chính sách ưu đãi dài hạn cho hoạt động đổi mới sáng tạo.

Chủ tịch KoCham nhận định, nếu Việt Nam xây dựng được hệ sinh thái đồng bộ về thể chế, nhân lực, hạ tầng và chính sách, các doanh nghiệp FDI sẽ có thêm cơ sở để mở rộng đầu tư vào R&D và các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao. Doanh nghiệp Hàn Quốc cũng sẵn sàng gia tăng đầu tư khi môi trường đầu tư tiếp tục được cải thiện theo hướng ổn định, minh bạch và thuận lợi cho đổi mới sáng tạo.

Nền tảng thu hút vốn tích cực của giai đoạn 2021-2025 và 7 tháng năm 2026, cùng định hướng mới từ Nghị quyết số 10-NQ/TW sẽ tạo thêm dư địa để thu hút những dự án xanh, công nghệ cao và có khả năng lan tỏa mạnh hơn tới khu vực kinh tế trong nước.

Nguyên Thảo

Có thể bạn quan tâm