Chuyển từ thu hút FDI bằng số lượng sang chất lượng
Sau gần 40 năm đổi mới, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đã trở thành một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Không chỉ bổ sung nguồn lực đầu tư, khu vực FDI còn góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hình thành nhiều ngành công nghiệp chủ lực, mở rộng thị trường xuất khẩu và đưa Việt Nam từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
6 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tăng 27,1% so với cùng kỳ năm trước. Ảnh: Nguyễn Nam
Tuy nhiên, bước sang giai đoạn phát triển mới, mô hình thu hút FDI dựa chủ yếu vào quy mô vốn và lợi thế chi phí đang bộc lộ nhiều hạn chế. Tỷ lệ dự án thâm dụng lao động, gia công, lắp ráp vẫn ở mức cao; tỷ lệ nội địa hóa còn thấp; liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước chưa chặt chẽ; chuyển giao công nghệ chưa đạt kỳ vọng. Điều này khiến giá trị gia tăng tạo ra trong nước còn hạn chế, trong khi năng lực tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của doanh nghiệp Việt vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.
Trong bối cảnh Việt Nam đang chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, yêu cầu đặt ra không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút dòng vốn chất lượng hơn. Đó cũng là tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, được xem là bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển FDI của Việt Nam.
Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 đưa Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo, chất lượng dịch vụ công và khả năng tiếp nhận các dự án FDI chất lượng cao. Theo đó, giai đoạn 2026-2030, Việt Nam phấn đấu thu hút từ 200-300 tỷ USD vốn FDI đăng ký, tương đương 40-50 tỷ USD mỗi năm; vốn thực hiện đạt khoảng 150-200 tỷ USD, tương đương 30-40 tỷ USD mỗi năm.
Điểm đáng chú ý không nằm ở quy mô vốn mà ở chất lượng dòng vốn. Nghị quyết đặt mục tiêu 75% vốn FDI đến từ các nền kinh tế phát triển, có thế mạnh về công nghệ, vốn và quản trị hiện đại; tăng 30% số tập đoàn Fortune 500 đầu tư tại Việt Nam; đồng thời thu hút các trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, trung tâm dữ liệu, trung tâm điều hành khu vực của các tập đoàn đa quốc gia. Đặc biệt, Việt Nam hướng tới thu hút ít nhất ba tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đặt trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), đồng thời ưu tiên các doanh nghiệp sở hữu công nghệ lõi, công nghệ chuyên biệt có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam nhận định, đây là điểm khác biệt lớn nhất của Nghị quyết số 10-NQ/TW so với các chính sách thu hút FDI trước đây. "Nếu trước đây chúng ta chủ yếu quan tâm đến quy mô vốn đầu tư thì nay phải quan tâm nhiều hơn đến chất lượng và khả năng lan tỏa của dòng vốn đó", ông nhận định.
Theo ông Lê Duy Bình, tác động của Nghị quyết đối với xuất khẩu hàng hóa sẽ thể hiện trên ba phương diện. Thứ nhất, FDI chất lượng cao sẽ mở rộng quy mô xuất khẩu, đặc biệt ở các ngành công nghệ cao, bán dẫn, thiết bị điện tử, năng lượng sạch và công nghệ số - những lĩnh vực có giá trị gia tăng lớn. Thứ hai, liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước sẽ giúp nâng tỷ trọng đóng góp của doanh nghiệp Việt trong tổng kim ngạch xuất khẩu, thay vì phụ thuộc chủ yếu vào khu vực FDI như hiện nay. Thứ ba, hàm lượng công nghệ và tri thức trong hàng hóa xuất khẩu sẽ được nâng lên, giúp Việt Nam chuyển từ vị trí gia công sang những công đoạn có giá trị cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Theo TS. Lê Duy Bình, mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong những năm tới cũng gắn chặt với chiến lược thu hút FDI thế hệ mới. "Các dự án bán dẫn, trung tâm dữ liệu, công nghệ số, năng lượng sạch hay sản xuất thiết bị công nghệ cao không chỉ tạo thêm việc làm mà còn nâng năng suất tổng hợp của nền kinh tế. Đây là điều kiện quan trọng để duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn", ông Lê Duy Bình phân tích.
Ở góc độ thương mại quốc tế, trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Đại học Kinh tế Quốc dân) cho rằng, Nghị quyết số 10-NQ/TW không chỉ là chính sách thu hút đầu tư mà còn là động lực trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu. Thực tế nhiều năm qua cho thấy cứ khoảng 10 tỷ USD FDI vào Việt Nam có thể tạo ra 100-150 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu. Nếu vốn FDI thực hiện đạt khoảng 35 tỷ USD mỗi năm, quy mô xuất khẩu từ khu vực FDI sẽ tiếp tục gia tăng mạnh.
"Hiện khu vực FDI chiếm khoảng 75% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Điều đó cho thấy chất lượng thu hút FDI sẽ quyết định trực tiếp khả năng mở rộng năng lực sản xuất và xuất khẩu của nền kinh tế", PGS.TS Nguyễn Thường Lạng nhấn mạnh và cho rằng, FDI chất lượng cần được hiểu ở ba cấp độ: thu hút các tập đoàn thuộc Fortune 500; thu hút doanh nghiệp sở hữu công nghệ lõi; đồng thời nâng tỷ lệ nội địa hóa thông qua liên kết với doanh nghiệp Việt Nam.
Gia tăng liên kết, nâng tỷ lệ nội địa hóa để xuất khẩu bền vững
Một trong những mục tiêu đáng chú ý của Nghị quyết số 10-NQ/TW là đến năm 2030 nâng tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực lên 45-50%, đồng thời có khoảng 10.000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI, trong đó có từ 500-1.000 nhà cung ứng cấp I.
Theo các chuyên gia, đây mới là yếu tố quyết định để dòng vốn FDI tạo ra hiệu ứng lan tỏa đối với nền kinh tế. PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cho rằng Việt Nam cần sớm hình thành lực lượng doanh nghiệp đủ năng lực trở thành nhà cung cấp cấp 1 cho các tập đoàn đa quốc gia. Khi đó, FDI không chỉ mang lại kim ngạch xuất khẩu mà còn giúp nâng cao năng lực sản xuất, công nghệ và sức cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa.
Đồng quan điểm, TS. Lê Duy Bình nhấn mạnh yếu tố quyết định sự phát triển dài hạn của xuất khẩu vẫn là năng lực nội sinh của doanh nghiệp Việt Nam. Hiện cả nước có khoảng 1 triệu doanh nghiệp, cùng hàng triệu hộ kinh doanh và doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Nếu đến năm 2030 nâng số doanh nghiệp lên khoảng 2 triệu, khu vực kinh tế trong nước sẽ có điều kiện tham gia sâu hơn vào chuỗi xuất khẩu. Để đạt được mục tiêu này, doanh nghiệp cần đầu tư mạnh cho nghiên cứu - phát triển (R&D), làm chủ công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ và từng bước tham gia sản xuất linh kiện, phụ tùng, vật liệu cho các ngành công nghệ cao thay vì chỉ dừng ở sản xuất thành phẩm.
"Khi nâng được hàm lượng công nghệ và tỷ lệ nội địa hóa, xuất khẩu của Việt Nam sẽ không chỉ tăng về quy mô mà còn tăng về chất lượng. Giá trị gia tăng giữ lại trong nền kinh tế sẽ cao hơn, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam được cải thiện và vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu cũng được nâng lên", TS. Lê Duy Bình nhận định.
Trong bối cảnh thương mại toàn cầu bước vào giai đoạn cạnh tranh bằng công nghệ, đổi mới sáng tạo và tiêu chuẩn xanh, chuyển đổi tư duy thu hút FDI từ "nhiều" sang "chất lượng" được đánh giá là bước đi cần thiết. Nếu các mục tiêu của Nghị quyết số 10-NQ/TW được hiện thực hóa, Việt Nam không chỉ có thêm nguồn lực đầu tư mà còn hình thành hệ sinh thái sản xuất hiện đại, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, gia tăng liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước và từng bước xây dựng năng lực cạnh tranh dựa trên công nghệ, đổi mới sáng tạo. Đây cũng sẽ là nền tảng quan trọng để xuất khẩu Việt Nam duy trì đà tăng trưởng trong dài hạn, gia tăng giá trị, giảm phụ thuộc vào gia công và từng bước khẳng định vị thế cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Nghị quyết số 10-NQ/TW đánh dấu bước chuyển từ thu hút FDI theo số lượng sang chú trọng chất lượng, công nghệ và hiệu quả lan tỏa. Đây là nền tảng để Việt Nam thu hút dòng vốn chất lượng cao, tăng liên kết với doanh nghiệp trong nước và nâng vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.