Ngành Công Thương TP. Hồ Chí Minh: 40 năm xây dựng và phát triển

TP. Hồ Chí Minh là trung tâm công nghiệp lớn nhất nước. Số cơ sở, lao động sản xuất của các thành phần kinh tế không ngừng tăng lên hàng năm. Quá trình phát triển công thương thành phố là cả chặng đường dài hình thành, phát triển với những giai đoạn thăng trầm khác nhau.
Ngành Công Thương TP.Hồ Chí Minh đang phát triển ngày càng ổn định và đúng định hướng

Các giai đoạn phát triển công nghiệp

Thời kỳ 1975 – 1985: tỷ trọng công nghiệp quốc doanh chiếm 70-75%, tỷ trọng kinh tế tập thể chiếm hơn 21% giá trị tổng sản lượng công nghiệp. Giá trị gia tăng trong sản xuất công nghiệp tăng 5,8% năm, nhưng do chỉ chiếm khoảng 26 - 30% giá trị tổng sản phẩm nội địa nên đóng góp của công nghiệp vào tăng trưởng kinh tế không cao.

Giai đoạn 1986 - 1990: Năm 1990, TP. Hồ Chí Minh đã có trên 30% số lượng doanh nghiệp (DN) và 30% số vốn đầu tư của khu vực DN so với cả nước. Hoạt động sản xuất công nghiệp bắt đầu có những bước tiến tích cực về sản lượng, chất lượng hàng hóa. Mức tăng trưởng kinh tế có chậm lại nhưng đến năm 1990, tỷ trọng công nghiệp trong GDP thành phố tiếp tục tăng lên 42%, trong khi các lĩnh vực khác như dịch vụ, nông, lâm, ngư nghiệp lại giảm. Công nghiệp chế biến tăng trưởng 6,3%/năm và tỷ trọng trong GDP tăng từ 30% năm 1985 lên gần 36% năm 1990. Giai đoạn 1988 - 1980, đã có 88 giấy phép đầu tư nước ngoài được cấp với tổng vốn đầu tư là 976 triệu USD.

Giai đoạn 1991 - 2000: Các chính sách cải cách kinh tế thời kỳ 1986 – 1989 về giá cả, thuế, tài chính và ngoại thương bắt đầu có tác dụng. Tốc độ tăng trưởng GDP công nghiệp thành phố bình quân thời kỳ 1991 - 1995 là 16,6%, chiếm tỷ trọng 42% trong cơ cấu GDP vào năm 1995. Thế mạnh của công nghiệp TP. Hồ Chí Minh là chế biến, tăng trưởng với tốc độ 17%/năm trong cùng thời kỳ và cùng với ngành sản xuất – phân phối điện, nước và khí đốt chiếm gần 30% giá trị tổng sản lượng công nghiệp của cả nước. Nhiều sản phẩm công nghiệp chế biến không những đáp ứng được nhu cầu cho thành phố mà còn được tiêu thụ ở các tỉnh, thành phố trong cả nước kể cả phục vụ xuất khẩu. Tỷ trọng hàng công nghiệp chế biến trong xuất khẩu tăng từ 20,4% năm 1991 lên 48,4% năm 1995. Các ngành công nghiệp nhẹ và sản xuất hàng tiêu dùng chiếm 84% giá trị sản lượng công nghiệp chế biến.

Giai đoạn 2001 – 2010: tất cả các ngành, các lĩnh vực đều có tốc độ tăng trưởng bình quân trên 2 con số. Công nghiệp chế biến tăng trưởng 16,1%/năm và năm 2003 chiếm tỷ trọng 96,7%  tổng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn. Quy mô các lĩnh vực sản xuất công nghiệp ngày càng lớn. Tuy nhiên, khủng hoảng kinh tế đã ảnh hưởng đến các DN sản xuất công nghiệp gặp khó ở thị trường đầu ra, sức tiêu thụ của thị trường giảm. Nhưng với sự quan tâm của Đảng bộ và chính quyền thành phố, công nghiệp vẫn có mức tăng trưởng ổn định. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn 2001-2005 là 11,24%, giai đoạn 2006 - 2010 là 12,46%.

Giai đoạn 2011- 2015: Thành phố chỉ đạo thực hiện một số chương trình như: Chương trình kích cầu đầu tư  đối với 4 ngành công nghiệp trọng yếu; Chương trình bảo lãnh tín dụng cho DN nhỏ và vừa; Chương trình kết nối ngân hàng – doanh nghiệp; Chương trình nâng cao năng lực thiết kế, chế tạo và chuyển giao công nghệ mới,… nên công nghiệp thành phố vẫn có mức tăng trưởng ổn định và đúng định hướng.

Các giai đoạn phát triển thương mại

Giai đoạn 1975- 1985: Tình trạng “ngăn sông, cấm chợ” đã cô lập thành phố với các địa phương khác trong việc lưu thông hàng hóa, người dân bị thiếu đói lương thực thực phẩm. Ngành thương nghiệp tìm mọi cách khai thông nguồn hàng giữa thành phố và các tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long thông qua hình thức “liên kết, trao đổi hàng đổi hàng”. Ngành sản xuất lương thực, thực phẩm ở các tỉnh đã có thị trường tiêu thụ rộng lớn là TP. Hồ Chí Minh, hàng công nghệ phẩm do thành phố sản xuất đã nhanh chóng đến với người tiêu dùng các tỉnh. Điều này đã kích thích phát triển sản xuất, góp phần quan trọng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng đang trong tình trạng khan hiếm trầm trọng.

Ngành ngoại thương TP. Hồ Chí Minh thực sự gặp khó khăn vì bị cơ chế trói buộc, hiệu quả đầu tư thấp, ngân sách thâm hụt, xuất khẩu không tăng. Nhìn tổng thể ngoại thương cô lập, cả nước khủng hoảng kinh tế trầm trọng, siêu lạm phát 36,6% (năm 1985), bội chi ngân sách 18,1% (năm 1980), siêu lạm phát 774%, nợ nước ngoài hơn 8,5 tỷ rúp và hơn 1,9 tỷ USD.

Giai đoạn 1986 – 1990: Việc xóa bỏ tình trạng “ngăn sông cấm chợ”, nới lỏng chính sách ngoại thương và sự phát triển của các tổ chức cá nhân tham gia hoạt động thương mại đã góp phần gia tăng tổng mức hàng hóa bán ra trên thị trường. Năm 1985, tổng mức hàng hóa bán ra trên thị trường chỉ đạt 35 tỷ đồng, đến năm 1990 đạt trên 10 ngàn tỷ đồng (chưa loại trừ yếu tố tăng giá do lạm phát). Hoạt động kinh doanh trên địa bàn thành phố đã góp phần quan trọng cho việc hình thành Luật Công ty, Luật DN tư nhân vào những năm đầu của thập niên 1990.

Giai đoạn 1991 - 2000: Tốc độ tăng trưởng của tổng mức hàng hóa bán ra thời kỳ 1991 - 1995 tăng bình quân 62,2%/ năm (chưa loại trừ yếu tố tăng giá); trong đó: tổng mức bán buôn tăng bình quân 65,4%/năm, tổng mức bán lẻ tăng bình quân 57,9%/năm. Đây là thời kỳ ngành thương mại đã đạt đến đỉnh cao tăng trưởng, đáp ứng khá đầy đủ nhu cầu mua sắm tiêu dùng của nhân dân. Đối với hệ thống phân phối thành phố, thời kỳ 1993 – 1994 đã bắt đầu có siêu thị.

Hoạt động ngoại thương trên địa bàn thành phố giai đoạn 1991 – 1995 đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế trong bối cảnh đất nước bị cấm vận kinh tế và sự sụp đổ của hệ thống các nước XHCN Đông Âu. Ngoại thương trên địa bàn thành phố đã nhanh chóng tiếp cận và hòa nhập vào các nước trong khu vực, đặc biệt là các nước ASEAN. Thành phố đã từng bước ổn định sản xuất và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong bối cảnh đầy nhạy cảm về kinh tế lẫn chính trị. Đây có thể xem là thành tựu nổi bật nhất, là điểm mấu chốt của ngành ngoại thương trên địa bàn thành phố.

Kim ngạch xuất nhập khẩu giai đoạn 1991 – 1995 gia tăng đáng kể so với giai đoạn 1986 – 1990. Năm 1990, kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 780 triệu USD, đến năm 1995 đạt gần 2,6 tỷ USD. Hàng hóa Việt Nam bắt đầu thâm nhập vào thị trường các nước trong khu vực. Vật tư, nguyên liệu nhập khẩu đã góp phần “giải phóng sức sản xuất” sau một thời gian dài hoạt động cầm chừng.

Giai đoạn 2001 - 2010: Trong giai đoạn 2001 - 2005, ngành thương mại- dịch vụ có tốc độ tăng trưởng cao nhất và chiếm tỷ trọng lớn trong GDP của thành phố. Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu đạt 19,4 tỷ USD, tăng 12,36% so với năm 2006. Năm 2008, kim ngạch xuất khẩu đạt 24,08 tỷ USD, tăng hơn 24% so với năm 2007. Năm 2009, do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 20 tỷ USD, giảm 16,6% so với năm 2008, nhưng vẫn cao hơn mức kim ngạch xuất khẩu năm 2006 là 16,2%. Năm 2010, tổng kim ngạch xuất khẩu lại tiếp tục tăng trưởng, đạt 22,5 tỷ USD, tăng 12,32% so với năm 2009. Năm 2011, kim ngạch xuất tiếp tục tăng trưởng cao, đạt 28,18 tỷ USD, tăng 24,95% so với năm 2010.

Giai đoạn 2011 – 2015: Năm 2011, tốc độ tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ của TP. Hồ Chí Minh đạt 23,5%. Năm 2012, tốc độ tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ của thành phố là 17,3%. Đến năm 2013 đạt mức 12,6% và tổng giá trị hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ của thành phố vẫn chiếm tỷ trọng lớn so với cả nước (chiếm 23,1%). Năm 2014, doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ ước đạt 655.365 tỷđồng, tăng 12,5% so với cùng kỳ 2013. Riêng doanh thu thương nghiệp chiếm 75,4%, đạt 493.943 tỷ đồng, tăng 13,9% so với năm 2013.

Anh Vĩnh (tổng hợp)